Subscribe:
Được tạo bởi Blogger.

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2015

27 tuổi có quá muộn để đi học

Tôi năm nay 27 tuổi, đã có vợ và một con, năm nay cũng tốt nghiệp THPT sau 5 năm học lại tại Trường Giáo dục thường xuyên.
Đến ngày 20/8 là hết hạn nộp hồ sơ dự thi đại học, cao đẳng rồi mà tôi vẫn băn khoăn không biết có nên tiếp tục theo học cao đẳng hay không vì tôi không đủ điểm để học đại học.
27 tuổi học cao đẳng 3 năm nữa là 30 tuổi. Rồi để liên thông lên đại học mất 1-2 năm nữa, lúc đó đã 32 tuổi rồi. Thật sự là rất lâu. Mà tôi để ý nhiều doanh nghiệp tuyển dụng người không quá 30 tuổi nên tôi rất lo lắng cho tương lai sau này của mình. Xin mọi người tư vấn giúp tôi. Xin cảm ơn!

Thủ khoa 29,75 điểm khối B được 29 điểm khối A

Là học sinh trường làng ở huyện Xuân Trường (Nam Định), nhưng trong kỳ thi THPT quốc gia vừa qua, Nguyễn Hoàng Hải đã xuất sắc vượt qua nhiều thí sinh có điều kiện học tập tốt hơn, trở thành thủ khoa khối B với 29,75 điểm.

Điểm thi các môn của Nguyễn Hoàng Hải (lớp 12A1, THPT Xuân Trường B, Nam Định) là: Toán 10; Hóa 10; Sinh 9,75; Vật lý 9, Ngữ văn 6; tiếng Anh 7,25. Tính theo khối B em được 29,75 điểm, trở thành một trong 2 thủ khoa ở khối thi này. Em cũng là một trong 9 học sinh cả nước đạt 29 điểm khối A.
thu-khoa-khoi-B-Nguyen-Hoang-H-2219-1522
Nguyễn Hoàng Hải, thủ khoa khối B của cả nước đạt 29 điểm khối A, 27,25 điểm khối A1. Ảnh: NVCC.
Chia sẻ với VnExpress, Nguyễn Hoàng Hải cho biết khi thi xong em tự tin đạt khoảng 28-29 điểm cả hai khối A và B nhưng chưa từng nghĩ sẽ trở thành thủ khoa. Nam sinh hài lòng với điểm số các môn, đặc biệt là môn Sinh kết quả vượt quá mục tiêu đặt ra. "Không hiểu hôm đó em làm bài thăng hoa thế nào mà lại đạt 9,75 điểm", Hải dí dỏm nói và cho biết ban đầu em nghĩ chỉ được khoảng 9 điểm môn này.
Gia đình có truyền thống làm giáo viên nhưng Nguyễn Hoàng Hải lại chọn ngành Y đa khoa của Đại học Y Hà Nội để nộp hồ sơ. Giữa 2 nghề mà ông bà vẫn nói là cao quý nhất - nhà giào và ngành Y - em chọn cái thứ hai theo sở thích và vì tự thấy "không có năng khiếu đứng lớp". "Học ngành này vất vả nhưng cái gì cũng có giá của nó, học xong là có công ăn việc làm luôn. Ông bà và bản thân hay ốm vặt nên em cũng muốn học ngành này để có thể chữa bệnh cho mọi người", thủ khoa khối B tâm sự.
Chia sẻ về kinh nghiệm học tập, Nguyễn Hoàng Hải cho biết không đi học thêm bên ngoài mà chỉ học ở trường, cố gắng ghi nhớ hết kiến thức thầy cô giảng dạy. Về nhà, Hải chỉ dành thêm 3 tiếng để luyện đề và tìm hiểu kiến thức nâng cao. Em cười bảo, với mình 3 tiếng tự học là nhiều và mệt lắm rồi, bởi khi ấy phải tập trung toàn lực học tập. "Khi luyện đề em thường chú ý tăng dần tốc độ làm bài, luyện trình bày để đạt điểm tối đa và tìm hiểu nguyên nhân lỗi sai rồi rút kinh nghiệm cho lần sau", Hải bật mí.
Có mẹ là giáo viên dạy Hóa học 3 năm cấp ba cho mình, nhưng Nguyễn Hoàng Hải cho biết ít khi được mẹ kèm cặp bài thêm lúc ở nhà. Cách giúp con học hiệu quả của mẹ Hải là tranh thủ thời gian làm việc nhà sẽ đố con những câu liên quan đến lý thuyết Hóa. Nhờ phương pháp đó, chàng thủ khoa đại học khối B đã ghi nhớ được khối kiến thức lý thuyết khổng lồ của môn này và đạt 10 điểm tuyệt đối khi thi THPT quốc gia.
thu-khoa-khoi-B-Nguyen-Hoang-H-6092-8206
Ngoài thời gian học tập, Nguyễn Hoàng Hải chăm chỉ tập võ, chơi thể thao. Ảnh:NVCC.
Thừa nhận vì bận nên ít có thời gian kèm con học bài, bà Vũ Thị Hoàng Ngân (mẹ Hải) tự hào cho biết, bù lại con mình có ý thức tự giác rất cao. "Hải cá tính, đã nói là làm. Trong học tập con rất dứt điểm, không bao giờ để bài hôm nay sang đến ngày mai", bà Ngân nói và cho hay dù đạt nhiều giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi như giải Nhất tỉnh môn Toán lớp 12… nhưng Hải luôn khiêm tốn, không thích bố mẹ khoe thành tích với mọi người. Hôm biết tin con trở thành thủ khoa khối B cả nước, điểm khối A cũng thuộc top đầu, bà Ngân phấn khởi khoe với bạn bè và được con trai "nhắc nhở" rằng "Con ngại".
Dù Hoàng Hải không nối nghiệp dạy học nhưng mẹ em cho biết, cả gia đình đều ủng hộ quyết định vào ngành Y vì "đâu cũng là thầy". Hải là con "độc" trong nhà nhưng khá chăm chỉ giúp đỡ bố mẹ, ông bà từ việc nặng nhọc đến chuyện nấu ăn, giặt giũ. Những ngày nghỉ học rảnh rỗi, em thường xuống trại giống nơi bố mình làm việc để gieo hạt, trồng cây cùng.
"Bố làm việc đến tối mới về, hai mẹ con đều sáng chiều tới trường nên buổi trưa nếu về sớm hơn mẹ, Hải sẽ làm nhiệm vụ nấu cơm", bà Ngân kể chuyện. Người mẹ này cười vui cho biết, vì chăm tập thể thao và đã được lên đai nâu ở môn Karatedo nên con trai đã đạt 65 kg, khá rắn rỏi.
Bạn học cùng lớp Phạm Xuân Lượng chia sẻ, môn thể thao nào thủ khoa Hoàng Hải cũng hăng hái tham gia. Nam sinh này không đi học thêm nhưng điểm thi giữa kỳ, cuối kỳ các năm học luôn đứng vị trí thủ khoa toàn khối. Hải cũng thường xuyên giúp đỡ bạn bè trong việc học hành. "Bạn ấy thông minh và khiêm tốn. Dù có mẹ là giáo viên ở trường nhưng chưa bao giờ có ai xì xèo việc Hải đạt thành tích tốt mà mọi người đều khâm phục bạn ấy", Lượng nói.
Giáo viên chủ nhiệm lớp, thạc sĩ Bùi Đức Quang đánh giá cao khả năng tự học, ý chí vươn lên và tính cách hòa đồng, hay giúp đỡ bạn bè của nam sinh này. Thầy Quang cho biết, vì luôn học giỏi, đều các môn nên thành tích 29 điểm khối A, 29,75 điểm khối B của Nguyễn Hoàng Hải không khiến mọi người bất ngờ. Ngoài dẫn đầu trường về điểm thi hai khối này, Hải còn chiếm vị trí số một cho kết quả thi khối A1 với 27,25 điểm.

TS Lương Hoài Nam đề xuất bậc tiểu học 6 năm

Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đang thiếu tham chiếu và chưa ứng dụng Hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về phân loại giáo dục của UNESCO nên chưa tương thích cao với hệ thống giáo dục của các nước có nền giáo dục tiên tiến.
TS Lương Hoài Nam vừa gửi văn bản đến Bộ Giáo dục và Đào tạo góp ý cho dự thảo “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể”. Theo đó, ông Nam cho rằng cần đặt ra một số mục tiêu đổi mới giáo dục cụ thể đủ lớn và có tính khả thi, làm sao để tất cả cơ quan nhà nước, toàn ngành giáo dục và đông đảo tầng lớn nhân dân, học sinh thông hiểu và chia sẻ đây là một việc quan trọng, thiết thực, đáng làm, phải làm, không làm không được.
TS Nam nhận thấy, hiện nay có sự mâu thuẫn phổ biến trước các đề án đổi mới. Một mặt, người dân không hài lòng với tình hình hiện tại, không ít người lên tiếng phê phán, chỉ trích. Nhưng mặt khác, họ lại thiếu niềm tin vào năng lực thay đổi, cải thiện tình hình của cơ quan quản lý chủ trì đề án. Không ít người cho rằng các đề án đổi mới chẳng qua chỉ là cách cơ quan quản lý “vẽ việc tiêu tiền”, vì lợi ích nhóm, còn kết quả, hiệu quả thu được thì đáng nghi ngờ. Mâu thuẫn này cũng đã và đang diễn ra đối với đề án đổi mới giáo dục Việt Nam.
"Cuối thế kỷ 19, khi người dân Nhật Bản đồng thuận với chủ trương đổi mới giáo dục của Hoàng đế Minh Trị theo tinh thần của Fukuzawa, họ đã không ngần ngại bỏ tiền của gia đình ra đóng góp xây trường, mời giáo viên nước ngoài sang Nhật Bản dạy cho con em. Nhờ sự chia sẻ, ủng hộ của người dân Nhật Bản, công cuộc đổi mới giáo dục thời Minh Trị đã thành công rực rỡ, biến Nhật Bản từ một quốc gia lệ thuộc thành cường quốc kinh tế, quân sự", ông Nam dẫn chứng và khẳng định, có được sự ủng hộ của người dân thì đổi mới giáo dục ở Việt Nam mới thành công.
10405500-10204799158166605-772-7725-8401
TS Lương Hoài Nam luôn trăn trở với giáo dục Việt Nam.
Cần giải quyết nhược điểm của 'người Việt Nam điển hình'
Theo TS Nam, một trong những mục tiêu quan trọng nhất của lần đổi mới giáo dục này là giải quyết những yếu kém, nhược điểm của "con người Việt Nam điển hình" đã và đang cản trở khả năng phát triển của mỗi cá nhân và đất nước, để hình thành những thế hệ công dân Việt Nam có phẩm chất, năng lực, trình độ vượt bậc, có cơ hội phát triển và cuộc sống tốt hơn.
Những yếu kém, nhược điểm của “con người Việt Nam điển hình” gồm có: Hiểu biết luật pháp quốc gia và quốc tế hạn chế; Sống và làm việc cảm tính, duy tình hơn duy lý, dễ dãi, xuề xoà, tính kỷ luật thấp; Khả năng sáng tạo công nghệ và làm công nghiệp kém; Ngoại ngữ (tiếng Anh) yếu...
Phải ứng dụng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế
TS Nam cũng cho rằng, dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đang thiếu tham chiếu và chưa ứng dụng "Hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về phân loại giáo dục" của UNESCO ("International Standard Classification of Education - ISCED"), làm cho Chương trình giáo dục phổ thông (dự thảo) chưa tương thích cao với các hệ thống giáo dục của các nước có nền giáo dục tiên tiến. Đây là một khiếm khuyết lớn.
Qua nghiên cứu ISCED và một số nền giáo dục tiên tiến như Anh, Mỹ, Phần Lan, Singapore…, TS Nam cho rằng ISCED là bộ tài liệu hướng dẫn, “bộ khung” vô cùng quan trọng cho việc xây dựng một hệ thống giáo dục quốc gia (hoặc đổi mới từ hệ thống giáo dục hiện tại). ISCED nêu rõ kết cấu các bậc học (6 bậc học theo ISCED 1997, 8 bậc học theo ISCED 2011), tiêu chuẩn đầu vào, mục tiêu đầu ra của mỗi bậc học, cách phân luồng học sinh trong các bậc học để học sinh phát huy tối đa tố chất, năng khiếu, nhu cầu hướng nghiệp của cá nhân. Thực tế là hệ thống giáo dục của nhiều nước tiên tiến tương thích rất cao với ISCED (cũng có thể ISCED được xây dựng trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của các nền giáo dục tiên tiến).
Nếu Bộ Giáo dục không lấy ISCED làm xuất phát điểm quan trọng cho việc xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, mà lại nghiên cứu ngay vào hệ thống giáo dục của các nước cụ thể thì khó có thể tạo ra được một hệ thống giáo dục khoa học, với các liên kết nội dung chặt chẽ trong toàn bộ hệ thống giáo dục. Bởi vì từ một bộ khung tốt có thể xây nên các ngôi nhà khác nhau, nhưng khi thiết kế một ngôi nhà cần biết rõ bộ khung, sau đó mới đi vào thiết kế chi tiết.
"Trong thế giới toàn cầu hóa hiện nay, sự tương thích về giáo dục một mặt giúp nâng cao chất lượng giáo dục, mặt khác tạo các cơ hội liên thông giáo dục – đào tạo giữa nước ta và các nước khác, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh Việt Nam khi đi du học nước ngoài, vừa tăng cơ hội cung cấp dịch vụ giáo dục – đào tạo cho học sinh nước ngoài ở Việt Nam trong tương lai", ông Nam nói.
Vấn đề thứ ba tiến sĩ Nam nhận thấy là kết cấu, mô hình hệ thống giáo dục thiếu rõ ràng; yếu tố phân luồng, phương pháp phân luồng giáo dục còn mờ nhạt. Dẫn chứng dự thảo có nêu các môn học cho từng cấp, tuy nhiên lại không vẽ ra được sơ đồ tổ chức và phân luồng giáo dục theo Chương trình mới (dạng mà có thể dễ dàng tìm được với các nền giáo dục tiên tiến): Đồng thời, ông cũng không tìm thấy chủ trương, phương pháp phân luồng giáo dục ngay từ cấp Trung học cơ sở theo khuyến cáo của ISCED và được áp dụng tại rất nhiều nước.
Đề xuất cấp tiểu học 6 năm
Từ những phân tích trên, TS Nam đề xuất sơ đồ tổ chức và phân luồng giáo dục tương thích với ISCED 2011 như sau:
Screen-Shot-2015-08-13-at-11-13-38.png
Ông Nam đề nghị cấp Tiểu học có độ dài 6 năm (tăng một năm so với dự thảo Chương trình của Bộ Giáo dục) để học sinh trưởng thành hơn về trí tuệ và thể lực, bộc lộ được các tố chất, năng khiếu cá nhân, sẵn sàng hơn cho việc chọn luồng ở Trung học cơ sở. Rất nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới cũng có độ dài Tiểu học 6 năm như Anh, Mỹ, Australia, Đức, Phần Lan, Singapore...
Cấp Trung học cơ sở có độ dài 3 năm (giảm một năm so với dự thảo), chia ra hai luồng Lý thuyết/Hàn lâm và Kỹ thuật/Ứng dụng. Giữa hai luồng này có sự liên thông (có bước kiểm tra, đánh giá) để học sinh có thể chuyển từ luồng này sang luồng khác do nhu cầu, nguyện vọng cá nhân trong quá trình học.
Cấp Trung học phổ thông có độ dài 3 năm (như dự thảo), chia làm ba luồng Lý thuyết/Hàn lâm, Kỹ thuật/Ứng dụng và Học nghề (dành cho những học sinh không đạt điều kiện, hoặc không có nhu cầu học lên tiếp).
TS Nam đề nghị bổ sung cấp Dự bị Đại học (ở các nước khác gọi là A-Level School, Junior College…) tương thích với ISCED 5, với độ dài 2 năm; đổi mới chương trình giáo dục đại học (ISCED 6), trong đó giảm thời gian học các môn đại cương mà học sinh đã học ở Dự bị Đại học. Thời gian học Đại học còn 3-4 năm (tùy trường, ngành học).
Sau khi học sinh kết thúc Trung học phổ thông, học sinh sẽ thi tốt nghiệp phổ thông và căn cứ vào kết quả của kỳ thi này để phân luồng học sinh vào các trường Dự bị đại học, cao đẳng. Số học sinh không đủ điều kiện vào các trường này sẽ quay lại học Trung cấp, hoặc ra thẳng thị trường lao động.
Sau khi học sinh học 2 năm Dự bị Đại học thì tổ chức kỳ thi đại học để chọn học sinh đạt tiêu chuẩn vào các trường đại học. Các học sinh không đạt điều kiện sẽ chuyển sang các luồng khác (hoặc ra thẳng thị trường lao động với các cơ hội tuyển dụng hạn chế; phần lớn số học sinh này sẽ học thêm một chương trình đào tạo bổ sung).
Bên cạnh các trường áp dụng chương trình giáo dục phổ thông chính quy, ông Nam đề nghị bổ sung vào hệ thống giáo dục phổ thông tổng thể các trường thực nghiệm, các trường năng khiếu, các trường giáo dục đặc biệt. Các trường này là những bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục phổ thông tổng thể, mặc dù họ áp dụng chương trình giáo dục riêng. Đặc biệt, cần đề cao vai trò và tạo điều kiện cho hệ thống các trường thực nghiệm của các nhà/tổ chức giáo dục có uy tín phát triển mạnh mẽ và tạo sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường giáo dục phổ thông, qua đó nâng cao chất lượng của cả hệ thống chính quy và hệ thống thực nghiệm.
Đề xuất giảm số lượng môn học bắt buộc
Về chương trình giáo dục phổ thông (dự thảo), TS Nam đánh giá là còn nặng, cách tiếp cận đối với các môn học bắt buộc và tự chọn chưa hợp lý. Số lượng các môn học bắt buộc quá nhiều so với các hệ thống giáo dục tiên tiến. Ở các cấp Trung học của Anh, Mỹ, Đức…, tổng số môn học của học sinh chỉ 6-8 môn, trong đó khoảng một nửa là các môn bắt buộc, một nửa là tự chọn. Ví dụ, tại Singapore, ở cấp Trung học cơ sở theo luồng Lý thuyết/Hàn lâm, học sinh học 6-8 môn, với 3 môn bắt buộc là Toán, Tiếng Anh, Tiếng mẹ đẻ; theo luồng Kỹ thuật/Ứng dụng, học sinh học 5-7 môn, với 4 môn bắt buộc là Toán, Tiếng Anh, Tiếng mẹ đẻ, Tin học.
Theo ông, cơ quan quản lý cần xác định các môn học tối thiểu học sinh cần phải học khi chọn đi theo một luồng giáo dục cụ thể (để hình thành con người toàn diện, cho dù học sinh có năng khiếu, thế mạnh về các môn học đó hay không), còn học sinh tự chọn thêm cho mình các môn học có năng khiếu, thế mạnh, có nhu cầu theo đuổi mang tính hướng nghiệp. Nhà trường chỉ nên tập trung dạy cho mỗi học sinh biết thật tốt một số thứ, đồng thời dạy cho học sinh phương pháp tự học để có thể học những thứ khác không nằm trong chương trình học.
"Theo tôi, các môn học bắt buộc ở hai cấp Trung học không nên quá 5 môn, tổng số môn học Trung học không quá 8 môn, để dạy và học thật sâu", ông góp ý.
Thông qua việc chọn Tiếng Anh là môn học bắt buộc ở cả ba cấp học, đồng thời thực hiện việc dạy và học một số môn học ở cấp Trung học bằng tiếng Anh, ông Nam đề nghị đặt mục tiêu biến Việt Nam thành một nước có mặt bằng trình độ tiếng Anh cao thứ hai trong khu vực ASEAN (chỉ thua Singapore).
TS Nam cũng đề nghị tách lĩnh vực giáo dục “Công nghệ - Tin học” thành hai lĩnh vực giáo dục độc lập là “Sáng tạo Công nghệ” (hoặc “Thiết kế và chế tạo”) và “Tin học”; bổ sung lĩnh vực giáo dục “Các hoạt động giáo dục ngoại khóa/ngoài lớp học”.

Thí sinh rút hồ sơ ở Đại học Đà Nẵng chỉ trong 15 phút

Ban đào tạo Đại học Đà Nẵng khẳng định, khi làm theo phần mềm do Bộ Giáo dục và Đào tạo cung cấp, việc rút hồ sơ của thí sinh chỉ mất khoảng 15 phút, không có cảnh thí sinh và phụ huynh vạ vật chờ đợi.

Sáng 13/8, tại Đại học Đà Nẵng hàng trăm thí sinh đến nộp, rút hồ sơ. Ghi nhận của VnExpress, việc rút diễn ra rất nhanh chóng. Thí sinh chỉ cần nộp đơn đăng ký rút hồ sơ theo mẫu, xuất trình biên lai ghi nhận đã nộp hồ sơ, chứng minh thư cho nơi tiếp nhận, chờ khoảng 15 phút là được trả.
Thống kê của Ban đào tạo Đại học Đà Nẵng, đến hết ngày 12/8 có 14.795 hồ sơ nộp vào 8 trường đại học, cao đẳng, phân hiệu và có 1.368 thí sinh rút hồ sơ.
2G3A6496-2054-1439455124.jpg
Thí sinh đăng ký nộp hồ sơ tại Đại học Đà Nẵng. Ảnh: Nguyễn Đông.
TS Trần Đình Khôi Quốc, Trưởng ban đào tạo Đại học Đà Nẵng, cho biết năm nay toàn bộ thí sinh trên cả nước phải đăng ký nguyện vọng, trong đó mỗi em được ghi tối đa 4 nguyện vọng, nên gây ra sự xáo trộn. Nếu như năm trước thí sinh đăng ký rồi đi thi, thì năm nay thi xong lại di chuyển đi đăng ký. Thực ra thí sinh hoàn toàn có thể đăng ký qua đường bưu điện, nhưng chính tâm lý lo lắng không an toàn nên đã trực tiếp đi nộp.
"Tôi theo dõi qua các phương tiện thông tin đại chúng, thấy cảnh phụ huynh và học sinh ở TP HCM phải vạ vật nộp, rút hồ sơ. Ở Đà Nẵng học sinh chỉ mất 15 phút làm thủ tục, không ai phải đợi lâu", ông Quốc khẳng định.
Theo lý giải của ông Quốc, việc thí sinh không phải chờ đợi khi nộp, rút hồ sơ là do Đại học Đà Nẵng sử dụng phần mềm do Bộ Giáo dục cung cấp. Thí sinh khi đã nộp hồ sơ thì hồ sơ đó sẽ được gán cho một con số, trên hệ thống đã cập nhật theo con số này nên tìm lại rất dễ dàng.
"Phần mềm của Bộ Giáo dục lọc rất tốt. Tôi không hiểu tại sao một số nơi lại không dùng phần mềm này", ông Quốc nói và cho biết cùng với phần mềm của Bộ, khi thí sinh trúng tuyển một nguyện vọng thì lập tức hồ sơ đăng ký các nguyện vọng khác sẽ được lọc ngay, không còn tồn tại trên hệ thống.
Đại học Đà Nẵng đã công bố điểm chuẩn tạm thời của các ngành tuyển sinh. Theo đó, thí sinh từ 15 điểm có thể nộp hồ sơ xét tuyển. Nhiều ngành được đánh giá là điểm chuẩn cao, như ngành Sư phạm toán (Đại học Sư phạm Đà Nẵng) cao nhất 23,75 điểm cho 50 chỉ tiêu; ngành Công nghệ thông tin của ĐH Bách khoa Đà Nẵng với 23,5 điểm cho 190 chỉ tiêu... Trong khi đó, nhiều ngành theo hồ sơ đăng ký đang thiếu thí sinh.

Đề xuất hai lựa chọn cho bài thi tự luận môn tiếng Anh

'Bài thi viết nên cho 2 lựa chọn, gồm một lựa chọn ít điểm (1 điểm) để viết về chủ đề dễ với yêu cầu văn phong và cấu trúc đơn giản, và một lựa chọn nhiều điểm (2 điểm) để viết về chủ đề khó với yêu cầu phức tạp hơn', thầy giáo Nguyễn Anh Đức đề xuất.

Từ những nguyên nhân và thực tiễn của học sinh, học hỏi kinh nghiệm từ các đề thi quốc tế phổ biến, tôi nghĩ bài thi THPT quốc gia môn tiếng Anh nên được thiết kế gồm 2 phần: Đọc hiểu và Viết; nên bỏ hẳn phần kiểm tra ngữ pháp và các câu kiểm tra ngữ âm “bằng mắt”. Bài đọc hiểu nên dài và phân bổ bài đọc từ dễ (tương đương trình độ A1, A2) đến khó (tương đương trình độ B1, B2).
Bài thi viết nên cho 2 lựa chọn, gồm một lựa chọn ít điểm (1 điểm) để viết về chủ đề dễ với yêu cầu văn phong và cấu trúc đơn giản, và một lựa chọn nhiều điểm (2 điểm) để viết về chủ đề khó với yêu cầu phức tạp hơn.
Nhìn lại cơ sở khoa học
Chúng ta đang áp chuẩn CEFR (khung quy chiếu trình độ chung châu Âu) với các khung trình độ gồm A1, A2, B1, B2, C1, C2 (trong đó A1 là từ chưa biết ít tiếng Anh và C2 là có khả năng sử dụng tiếng Anh thành thạo như chuyên gia) để đánh giá năng lực tiếng Anh của người Việt Nam. Đây là chuẩn ngôn ngữ mang tính nền tảng nhất và rất khoa học với độ chính xác cao khi phân biệt trình độ sử dụng ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng. Các bài thi IELTS, TOEFL, Cambridge hay TOEIC đều phải tham chiếu điểm số tương đương chuẩn CEFR để có chỉ dẫn rõ ràng hơn cho thang điểm của mình.
Chuẩn CEFR có bảng mô tả (CEFR descriptors) rất rõ ràng tới từng chi tiết năng lực sử dụng ngôn ngữ đối với từng kỹ năng thực hành tiếng (nghe, nói, đọc, viết) mà mỗi trình độ cụ thể (từ A1 đến C2) có thể làm được gì. Ngoài ra, CEFR cũng chỉ rõ 4 phạm vi ngôn ngữ (4 language domains) gồm: 1 - Phạm vi cá nhân (personal domain) là ngôn ngữ mà người học học để sử dụng giao tiếp về cuộc sống cá nhân như sở thích, gia đình, bạn bè; 2 - Phạm vi công cộng (public domain) gồm ngôn ngữ để giao tiếp với các nội dung về xã hội, công cộng; 3 - Phạm vi nghề nghiệp (occupational domain) gồm ngôn ngữ giao tiếp trong môi trường làm việc hoặc trong nghề nghiệp của người học; 4 - Phạm vi giáo dục/học thuật (educational domain) gồm các giao tiếp trong môi trường học tập, nghiên cứu.
Căn cứ vào 4 phạm vi ngôn ngữ này thì ta có thể thấy bài thi tiếng Anh hiện tại đang tập trung tỷ trọng câu hỏi nhiều hơn vào phạm vi giáo dục/học thuật, phạm vi cá nhân và công cộng tuy có nhưng không nhiều. Trong khi đó, mục đích học ngoại ngữ của bất cứ ai cũng cần phải hiểu và giao tiếp được các vấn đề thuộc về cá nhân và xã hội xung quanh trước, rồi cao hơn mới đến mục tiêu giáo dục/học thuật.
Những học sinh không chọn khối thi có môn tiếng Anh thì dĩ nhiên không thể đầu tư học đủ nhiều để có kiến thức tiếng Anh làm bài thi vốn nghiêng về phạm vi giáo dục/học thuật như trong đề thi tiếng Anh vừa qua. Bên cạnh đó, vì không đầu tư học tiếng Anh nên phần lớn học sinh phổ thông chỉ dừng lại ở trình độ A1 hoặc cao lắm cũng chỉ tới bắt đầu của A2. Nhưng bài thi vừa rồi lại gồm những câu hỏi chủ yếu ở trình độ B1 và B2, nên học sinh không làm được bài là đương nhiên.
Điều chỉnh thế nào?
Nhằm mục tiêu vừa phân loại tốt thí sinh thi đại học môn tiếng Anh, vừa giúp thí sinh các khối không thi tiếng Anh tránh điểm liệt và ôn tập có trọng tâm và hiệu quả hơn cho môn tiếng Anh trong suốt năm học lớp 12, đồng thời cũng giúp cho giáo viên tiếng Anh dễ dạy và hướng dẫn ôn thi hơn, bài thi tiếng Anh THPT quốc gia nên phân thành 2 phần thi gồm đọc hiểu và viết, loại bỏ hoàn toàn câu hỏi ngữ pháp và ngữ âm (những câu hỏi này chính là những câu hỏi mà biết thì làm được, không biết thì chỉ có cách chọn bừa đáp án chứ không thể suy luận hay phán đoán). Cụ thể như sau:
Bài thi đọc nên gồm các bài đọc hiểu ngắn ở trình độ A1 (chiếm khoảng 20%, tương đương 2 điểm) và tập trung hoàn toàn vào phạm vi cá nhân (personal domain) mà bất cứ người học tiếng Anh nào cũng cần biết. Các bài đọc hiểu ngắn ở trình độ A2 (chiếm khoảng 20%, tương đương 3 điểm) với nội dung tập trung vào phạm vi cá nhân (personal domain) và phạm vi công cộng (public domain). Các bài đọc hiểu dài với những câu hỏi khó hơn và phân bổ đều cho trình độ B1 và B2 (chiếm 40%, tương đương 4 điểm) và tập trung vào phạm vi giáo dục/học thuật (tương tự các bài đọc hiểu hiện đang có trong đề thi tiếng Anh THPT quốc gia 2015).
Khi bài thi chỉ gồm các câu hỏi đọc hiểu cũng có nghĩa là học sinh có cơ hội được sử dụng khả năng phán đoán và suy luận của mình. Học sinh yếu vẫn có thể “sống sót” khi đọc các bài ở trình độ A1, A2 và với nội dung tập trung vào những chủ đề quen thuộc mà các em đã được học trong chương trình phổ thông, và nhất là khi người ra đề có chủ ý hỏi vào khả năng suy luận, tìm ý, logic của thí sinh. Nếu chủ đích ra đề rõ ràng như vậy thì việc ôn thi môn tiếng Anh của học sinh sẽ trở nên có mục đích và phạm vi ngôn ngữ rõ ràng hơn.
thicu-3812-1439432564.jpg
Thí sinh trong kỳ thi THPT quốc gia 2015. Ảnh: Giang Huy.
Có ai đó sẽ nói rằng với danh mục chủ đề và phạm vi ngôn ngữ đã được khoanh vùng thì học sinh sẽ học tủ các chủ đề thuộc phạm vi cá nhân và xã hội thì sao? Câu trả lời là học sinh học tủ cũng tốt, vì suy cho cùng học ngoại ngữ chính là học thuộc: thuộc từ vựng, cụm từ và cấu trúc câu ở dạng chữ viết (đọc và viết) và ở dạng âm thanh (nghe và nói). Khi đã tập đọc nhiều và học tập trung vào phạm vi cá nhân và xã hội, các em sẽ tự tích lũy cho mình được một lượng kiến thức tiếng Anh thiết yếu và thực dụng nhất để có thể sử dụng được tiếng Anh cho bản thân ở mức độ cá nhân và xã hội tối thiểu, thay vì chỉ lo học vài cấu trúc ngữ pháp để làm bài thi rồi không dùng được tiếng Anh trong cuộc sống.
Còn đối với các bài đọc hiểu ở trình độ B1, B2, ngoài việc tập trung vào chủ đề khó thuộc phạm vi giáo dục/học thuật (educational domain) thì nên cho nhiều câu hỏi và bài đọc này cần dài. Vì tốc độ đọc của thí sinh cũng là một yếu tố để kiểm tra khả năng ngôn ngữ. Lúc này những thí sinh thi khối D sẽ phải thực sự chạy đua với thời gian để làm tốt nhất phần thi của mình, và những ai có sự thành thạo hơn về tiếng Anh sẽ đọc nhanh hơn, những ai ít thành thạo hoặc vốn từ ít hơn thì sẽ làm chậm hơn... Như vậy thì khả năng phân loại học sinh khá giỏi môn tiếng Anh sẽ rất cao và rõ rệt.
Bài thi viết, như đã nói ở trên, nên cho hai lựa chọn đề thi gồm đề dễ chỉ có 1 điểm, và đề khó với 2 điểm tối đa. Đề dễ sẽ tập trung câu hỏi bài viết về các nội dung thuộc phạm vi cá nhân và gia đình như hãy viết về gia đình bạn, hoặc viết về sở thích cá nhân của bạn, hoặc thú vị hơn là hãy viết một thư điện tử (email) giới thiệu với một người bạn nước ngoài về quê hương bạn. Mà đã là email thì cấu trúc không đòi hỏi chặt chẽ, văn phong đơn giản, miễn là người viết diễn đạt rõ ý, vận dụng vốn từ hợp lý, tổ chức câu rõ ràng là đủ để người nước ngoài hiểu được. Như thế là đã đạt yêu cầu sử dụng ngôn ngữ và có thể được trọn vẹn 1 điểm nếu không mắc lỗi ngữ pháp đáng kể.
Còn bài thi viết với đề khó hơn sẽ là lựa chọn của những thí sinh thi khối D với tính phân loại cao và yêu cầu phức tạp. Đề thi viết khó nên đưa ra yêu cầu cụ thể là viết luận với số lượng từ vựng tối thiểu được quy định rõ và văn phong đòi hỏi khó như yêu cầu tranh luận một quan điểm (argumentative essay) tương tự bài thi viết luận (task 2) của IELTS. Dĩ nhiên các yêu cầu về hình thức và tổ chức của bài luận này cần được hướng dẫn rõ ràng ngay từ đầu năm học cho học sinh, đồng thời cung cấp đề mầu và bài viết mẫu, kèm theo các tiêu chí chấm điểm rõ ràng (về ngữ pháp, từ vựng, sự mạch lạc, sự liên kết nội dung... trong bài luận) để học sinh tham khảo và có cơ sở để ôn luyện.
Bài thi viết IELTS cũng có đề thi mẫu, bài viết mẫu, tiêu chí chấm điểm... rất rõ ràng và nguồn cũng rất phong phú, nên có thể sử dụng làm gợi ý tham khảo ngay cho học sinh từ đầu năm học mà không mất công tổ chức, biên soạn đề mẫu và các tiêu chí chấm điểm.
Khi tổ chức lại đề thi tiếng Anh như gợi ý trên, học sinh có trình độ tiếng Anh ở mức trung bình sẽ đủ khả năng làm được 5 đến 6 điểm, gồm bài đọc ở trình độ A1, A2, bài viết ở lựa chọn dễ, cộng với việc “ăn may” khi nhắm mắt điền bừa trong những bài đọc ở trình độ B1, B2. Như vậy là phổ điểm sẽ trở nên cân đối khi số điểm nhiều nhất sẽ tập trung ở điểm 5 đến 6, và ít dần về hai phía điểm 1, 2 và điểm 9, 10.
Nhưng ý nghĩa hơn đó là nó định hướng cho việc dạy và học tập trung vào kỹ năng sử dụng ngôn ngữ với những chủ đề khả thi và thực dụng cho học sinh, thay vì học từng điểm ngữ pháp và ngữ âm rối rắm, rồi không dùng được trong cuộc sống. Một điều cần thiết nữa là mọi dạng đề thi mới đều cần được đưa ra bài mẫu thật sớm để giáo viên và học sinh có sự chủ động về thời gian đủ để chuẩn bị
.