Subscribe:
Được tạo bởi Blogger.

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2015

Nam sinh đại diện Việt Nam dự diễn đàn Lãnh đạo trẻ toàn cầu

Vượt qua hơn 2.000 ứng viên để trở thành quán quân cuộc thi Hùng biện tiếng Anh quốc tế - EF Challenge, Trần Duy Kiên sau đó trở thành đại diện duy nhất của Việt Nam tham dự diễn đàn Lãnh đạo trẻ toàn cầu tại New York (Mỹ).
Dáng người cao ráo, khuôn mặt sáng, miệng hay cười với chiếc răng khểnh, Trần Duy Kiên (17 tuổi, THPT chuyên Vĩnh Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc) còn thu hút mọi người bởi vẻ tự tin và bảng thành tích đáng nể. 3 năm học phổ thông, em đạt giải Nhất tỉnh cuộc thi Học sinh giỏi tiếng Anh; giải Nhất toàn quốc 2 cuộc thi tiếng Anh qua mạng; Olympic Tài năng tiếng Anh toàn quốc OTE năm 2014-2015; giải Ba quốc gia học sinh giỏi môn tiếng Anh.
Đặc biệt, tháng 8 vừa qua Trần Duy Kiên trở thành đại diện duy nhất của Việt Nam tham dự diễn đàn Lãnh đạo trẻ toàn cầu tại New York (Mỹ). Đây là phần thưởng em có được nhờ chiến thắng 2.000 đối thủ trong cuộc thi hùng biện tiếng Anh EF Challenge do Tổ chức giáo dục quốc tế EF (Education First) phối hợp với các Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức.
nam-sinh-dai-dien-viet-nam-du-dien-dan-lanh-dao-tre-toan-cau
Trần Duy Kiên (lớp 12A8 chuyên Anh, THPT chuyên Vĩnh Phúc tỉnh Vĩnh Phúc) là đại diện duy nhất của Việt Nam tham dự diễn đàn Lãnh đạo trẻ toàn cầu tại New York (Mỹ). Ảnh: Quỳnh Trang.
Trở về Việt Nam sau 2 tuần chu du trên đất Mỹ, Duy Kiên cười tươi: "Cảm giác rất tuyệt vời". Em đã được gặp gỡ và trải nghiệm nhiều điều thú vị cùng 24 bạn trẻ tài năng đến từ 17 quốc gia khác như: Italy, Nga, Mexico… "Chúng em được nói chuyện với những nhân vật đến từ Liên Hợp Quốc, Quỹ phát triển của Mỹ, Nhật; được giảng dạy các kỹ năng lắng nghe, lãnh đạo, sáng tạo… và làm một dự án riêng về vấn đề cấp bách trong xã hội. Ngoài thời gian ấy là những chuyến du lịch khám phá địa điểm nổi tiếng của New York", Kiên chia sẻ.
Nam sinh tâm sự, dự án em thực hiện ở diễn đàn Lãnh đạo trẻ liên quan đến nâng cao văn hóa đọc cho người Việt Nam. Chàng "mọt sách" này đã rất trăn trở khi nghe được thông tin bình quân một người Việt chỉ đọc 0,8 cuốn sách.
"Đây là một thực trạng đáng báo động", em nói và bảo sẽ triển khai các hội sách ở trường cấp 3 của mình để nâng cao văn hóa đọc cho mọi người. Các học sinh, giáo viên trong trường sẽ mang những cuốn sách họ yêu thích đến trao đổi, giới thiệu cho nhau. Kiên cũng kỳ vọng thực hiện được giờ đọc sách gia đình, mỗi ngày các thành viên dành 30 phút đến một giờ quây quần đọc sách để vừa cải thiện mối quan hệ trong gia đình, vừa giúp nâng cao hiểu biết.
nam-sinh-dai-dien-viet-nam-du-dien-dan-lanh-dao-tre-toan-cau-1
Trần Duy Kiên (bên phải) sau buổi thuyết trình cá nhân tại diễn đàn Lãnh đạo trẻ toàn cầu EF. Ảnh: NVCC.
Điều đặc biệt khác em có được từ chuyến đi Mỹ 2 tuần là những người bạn tốt và hiểu ra giá trị thực sự của sự lãnh đạo không phải "chỉ tay 5 ngón" sai bảo mà cần đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để hiểu, cảm thông và dẫn dắt họ từ bên trong. Chàng chủ tịch câu lạc bộ tiếng Anh của trường chuyên Vĩnh Phúc, kiêm phó bí thư chi đoàn lớp 12A8 chuyên Anh kỳ vọng, với kiến thức học được sẽ giúp em trở thành một lãnh đạo tốt.
Có bố là viên chức, mẹ làm kinh doanh, cả hai đều chỉ biết nói "Hello", nhưng từ bé Trần Duy Kiên đã cho thấy năng lực học ngoại ngữ rất tốt. Em không học thêm ở trung tâm mà cứ nghe nhạc, xem phim, đọc truyện tiếng Anh theo sở thích rồi dần dần tiến bộ. Kiên tâm sự, chưa bao giờ coi ngoại ngữ là môn học để phải gặp áp lực. Với em, tiếng Anh là thứ giúp mở ra thế giới để biết nhiều, quen rộng và tiếp cận được bao điều mình yêu thích.
"Đọc được cái gì thú vị liên quan đến tiếng Anh là Kiên quên hết mọi thứ, có khi đang ngồi trong giờ lại đeo tai nghe hoặc không ghi bài. Lúc đó thầy cô bực mình lắm, nhưng không giận lâu được bởi biết học trò đang quá đam mê và em ấy chỉ cười một chút là thầy cô lại xuôi lòng", giáo viên chủ nhiệm lớp cấp 3 Phạm Mai Hương chia sẻ về cậu học trò răng khểnh.
nam-sinh-dai-dien-viet-nam-du-dien-dan-lanh-dao-tre-toan-cau-2
Ước mơ của Duy Kiên là du học về ngành truyền thông hoặc giáo dục, sau đó trở lại Việt Nam để cống hiến cho nước nhà. Ảnh: NVCC.
Theo cô Hương, Trần Duy Kiên ở trường rất được giáo viên, bạn bè quý mến và là thần tượng của nhiều học sinh khóa dưới bởi học giỏi, đẹp trai, ngoan ngoãn, nhiệt tình. Tổng kết các môn học của em luôn đạt tầm 9 phẩy, riêng tiếng Anh xấp xỉ 10. Kiên thường xuyên giúp đỡ bạn bè học tập, hoàn thành xuất sắc các công việc đoàn, hội được giao cho. "Năm ngoái thi vượt cấp ở kỳ học sinh giỏi quốc gia, Kiên đã đạt giải Ba. Tôi tin rằng, năm nay em ấy sẽ có thành tích tốt hơn nữa", giáo viên chủ nhiệm nói.
Mẹ của Kiên, chị Nguyễn Thị Hương chia sẻ, con trai có ý thức tự giác trong học tập. Ngoài thời gian cho bài vở, cậu quý tử - con một của gia đình vẫn chịu khó giúp mẹ nấu nướng, dọn nhà.
Hiện Kiên tập trung ôn đội tuyển thi học sinh giỏi quốc gia môn tiếng Anh và nuôi hy vọng du học để mở mang tri thức rồi về phục vụ quê hương.

Học y sẽ chẳng bao giờ có ngày nghỉ

"Tôi học đại học Y khoa 6 năm liên tục không có ngày nghỉ kể cả dịp hè và Tết, học chuyên khoa 2 năm, nghiên cứu sinh 5 năm, sau đó mới gọi là bắt đầu hành nghề", TS.BS Đỗ Hoàng Dương đã chia sẻ về quá trình học làm bác sĩ.

Năm nay tôi đã tốt nghiệp đại học y khoa 20 năm, sắp đến một mùa tuyển sinh vào đại học, rất nhiều học sinh phổ thông, rất nhiều bậc cha mẹ có mơ ước học và làm thầy thuốc, tôi xin chia sẻ một vài suy nghĩ từ trải nghiệm cá nhân của mình trên con đường học ngành y và hành nghề y.
Mẹ tôi kể, khi tôi được 3 tháng tuổi, bị tiêu chảy cấp nặng, bệnh viện huyện chuyển đi Hà Nội, gia đình không có điều kiện, bố mẹ đưa tôi về nhà lúc nửa đêm. Bố đã đến gõ cửa ông lang Tiến trong vùng, ông không quản ngại đêm tối, đến xem mạch cho tôi và cùng bố đi đào cây thuốc giữa đêm khuya. Tôi sống được nhờ những bát thuốc của ông lang Tiến và các thìa cơm nhai mớm của bố mẹ.
Năm tôi học lớp 6, mẹ ốm nặng, các khớp sưng vù, không đi lại được, tôi đã cùng bố xách một bao tải chè xuống Hà Nội bán ở bến Nứa, sau đó tìm địa chỉ một ông thầy thuốc ở phố Nguyễn Khắc Nhu để kể bệnh và lấy thuốc cho mẹ. Ông thầy thuốc đó đã cho thuốc chữa khỏi bệnh mẹ tôi, ông hiền từ, ân cần khiến tôi rất ngưỡng mộ. Lần khác, năm tôi học lớp 8, bố ốm nặng, phải nhập viện. Tôi lên thăm, được chứng kiến các bác sĩ chữa khỏi bệnh cho bố, tôi rất khâm phục và biết ơn họ.
Mặc dù tôi say mê học vật lý, mơ ước trở thành nhà nghiên cứu vật lý, nhưng từ những kỷ niệm kể trên, khi thi đại học tôi quyết tâm chuyển sang thi khối B và bắt đầu nghiệp Y từ đó.
Chắc những ai từng được nhận bằng bác sĩ đều cảm thấy đó là quá trình thật sự không dễ dàng chút nào. Thời gian học rất dài, tôi học đại học Y khoa 6 năm liên tục không có ngày nghỉ kể cả dịp hè và Tết, học chuyên khoa 2 năm, nghiên cứu sinh 5 năm, sau đó mới gọi là bắt đầu hành nghề.
Số bài học quá nhiều, chắc những người thông minh hơn tôi có thể học ít, còn tôi, tôi thấy các bài học cứ dài dằng dặc, toàn chữ là chữ, các cuốn sách giáo khoa dày hàng nghìn trang, các hình vẽ giải phẫu quá phức tạp, các tên thuốc thì rất giống nhau, các cây thuốc vô cùng dễ lẫn, các chất có trong cơ thể thì không thể nhớ hết nổi… Tôi rất sợ trượt, vì trượt là mất học bổng, là về địa phương và không bao giờ được học nữa, thế là cứ mài mông suốt ngày trên giảng đường, thư viện.
Học y khoa là học đi đôi với thực hành, thực tập, kiến tập, hai năm đầu chỉ học lý thuyết thôi (đã thấy già người rồi), đến năm thứ 2 bắt đầu đi học bệnh viện thực tập và kéo dài cho đến lúc ra trường.
Các môn học cơ sở như giải phẫu, mô học, vi sinh y học, sinh hóa, sinh lý học, dược lý học, sinh lý bệnh học, phôi thai học, giải phẫu bệnh học, sinh học, lý sinh y học... là cứ học lý thuyết sáng, chiều lại lên phòng thí nghiệm triền miên, không ngừng nghỉ. Ai chỉ cần nghỉ một buổi là rất nguy hiểm, vì mỗi bài thực tập, nhà trường phải tốn nhiều hóa chất, động vật, bệnh phẩm, nhân viên chuẩn bị… rất tốn kém, rất khó tổ chức một buổi khác chỉ cho một sinh viên thực tập, cho nên ốm nhẹ cũng phải đi. Học các môn này cực kỳ quan trọng vì là cơ sở để hiểu về con người, về bệnh con người, thiếu nó không bao giờ trở thành bác sĩ!
Đến học các môn chuyên lâm sàng, nghĩa là các môn chữa bệnh, học rất thú vị, nhưng rất khó và tốn nhiều công sức. Cứ buổi sáng phải đi học tại phòng bệnh, đi theo các anh chị, bác sĩ, nhân viên điều dưỡng để học cách khám, cách tập chẩn đoán bệnh, ai mà không học sẽ không bao giờ trở thành thầy thuốc.
Đã đi học lâm sàng ở bệnh viện là phải trực đêm, cứ 5 ngày hoặc 6 ngày sẽ phải trực bệnh viện một ngày, có tuần trực hai buổi, đã trực là thức suốt đêm. Muốn học được lâm sàng tốt, phải có bệnh nhân và phải có thầy thuốc giỏi, thiếu một trong hai thuộc tính trên, không thể học lâm sàng tốt được.
Trong việc học lâm sàng, có nhiều bước mà sinh viên phải vượt qua từ chỗ hiểu đến chỗ làm được gồm có: Phải học thuộc lòng thủ thuật, phẫu thuật mình sẽ làm, ví dụ tiêm thì phải học lý thuyết tiêm thật thuộc; phải tập tiêm trên các chất liệu nhân tạo để cho thạo các động tác; phải nhìn xem các bác sĩ bậc thầy tiêm thật nhiều lần. Đứng xem không được hỏi, vì lúc đó các bậc thầy đang tập trung cho kết quả thủ thuật. Xem nhiều lần sẽ ghi nhớ hình ảnh vào trong đầu.
Phải làm sao cho các thầy biết là mình biết, thật khó đấy, một lớp 50 sinh viên, ông thầy không thể biết hết, cho nên phải là sinh viên nổi trội, chăm chỉ, hiểu bài khi thầy truy bài. Khi đã tin tưởng, các thầy sẽ chỉ cho bí quyết từng động tác để thực hiện chính xác. Nếu may mắn sẽ được thầy cho phép làm dưới sự giám sát của thầy và sự ủng hộ của bệnh nhân. Sau vài lần giám sát thấy học trò làm tốt, không sơ suất, các sinh viên ưu tú sẽ được giao những công việc nho nhỏ. Dần dần như vậy, sinh viên mới tích lũy được kỹ năng thực hiện các kỹ thuật y khoa.
Còn những sinh viên không được làm thì sẽ chỉ là bác sĩ chữa bệnh trên giấy thôi, trên bệnh nhân thật, không thể thành công, không ai dám giao tính mạng cho các thầy thuốc chỉ mới biết lý thuyết.
Sau nhiều năm thực hiện các kỹ thuật y khoa như trên, các thầy thuốc tiếp tục phải đúc rút kinh nghiệm, đọc sách cập nhật, tham khảo đồng nghiệp, ghi nhận phản hồi từ bệnh nhân, tất cả những điều đó mới kết tinh thành kỹ năng thầy thuốc. Trong quá trình xây dựng hình thành kỹ năng y khoa, sự thông minh chỉ là một loại phương tiện thôi, còn đam mê, sự chặt chẽ trong tư duy, cẩn trọng trong động tác và đức tính chăm chỉ mới là quyết định.

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2015

Những cách khác nhau để nói 'I miss you'

Trong tiếng Anh, có nhiều lựa chọn để thể hiện sự mong nhớ thay cho câu nói đơn giản "I miss you".
Khi muốn diễn đạt với bạn bè, người thân hay người yêu về sự nhớ nhung, bạn có thể nói trực tiếp, đơn giản rằng "I miss you". Bên cạnh đó, có nhiều câu nói hay hơn như "I've been thinking of you" hoặc "I hope I see you again soon". Bạn có thể lựa chọn những mẫu câu thể hiện nỗi nhớ với mức độ, ngữ cảnh khác nhau dưới đây:
Mong nhớ bạn bè, người thân quen 
nhung-cach-khac-nhau-de-noi-i-miss-you
- Cháu rất mong được gặp lại bà.
- Cháu mong được nói chuyện lại với chú.
- Giá mà mẹ ở đây.
- Con suốt ngày nghĩ về mẹ thôi.
- Hi vọng sớm gặp lại cậu.
- Tớ mong sớm gặp lại cậu.
- Bao giờ em mới được gặp lại chị đây?
- Nghĩ về cậu khiến tớ luôn mỉm cười
- Tớ đang đếm ngày tháng trôi qua cho đến khi được gặp lại cậu.
Nhớ nhung người yêu, chồng/ vợ
nhung-cach-khac-nhau-de-noi-i-miss-you-1
- Em ở trong tâm trí anh suốt đêm qua.
- Em luôn ở trong tâm trí anh.
- Anh mong được nhìn thấy khuôn mặt xinh đẹp của em.
- Tất cả những điều anh làm là nghĩ về em
- Em nghĩ về anh cả ngày lẫn đêm.
- Em dành hết thời gian mình cho việc nghĩ về anh.
- Hình ảnh về em khiến anh mỉm cười.
- Anh luôn mỉm cười mỗi khi nghĩ đến những lúc chúng ta ở bên nhau.
Nhớ nhung mãnh liệt người yêu, chồng/ vợ
nhung-cach-khac-nhau-de-noi-i-miss-you-2
- Anh đã không thể ngủ vì nghĩ đến em rất nhiều.
- Em không ăn nổi thứ gì vì tất cả những thứ em làm là nghĩ về anh.
- Anh không thể tập trung vì em cứ xuất hiện trong tâm trí anh.
- Em không làm việc được vì tất cả những thứ em làm là nghĩ về anh.
- Anh nhớ em nhiều làm, điều này làm anh cảm thấy đau đớn.

4.000 sinh viên được yêu cầu dùng sim Vinaphone

Đại học Ngoại ngữ (Đại học Huế) ban hành văn bản yêu cầu 4.000 sinh viên của trường mua thêm sim Vinaphone để nhận thông báo liên quan đến học tập.
Ngày 26/10, Hiệu trưởng Đại học Ngoại ngữ (Đại học Huế), ông Bảo Khâm ký văn bản, thông báo việc trường sẽ cấp một tài khoản học vụ gồm sim điện thoại Vinaphone và email nhằm trao đổi thông tin học tập giữa nhà trường và sinh viên. Sinh viên phải đóng 20.000 đồng để kích hoạt sim. Các lớp trưởng được giao thu tiền và nộp về Văn phòng Một cửa của sinh viên để nhận sim. 
Hàng trăm sinh viên đã tỏ ý kiến không đồng tình với quyết định của nhà trường.
"Mình được gọi lên gặp 2 anh chị nhân viên Vinaphone. Họ yêu cầu nhận đủ số lượng 25 sim tương ứng sĩ số lớp và thu mỗi bạn 20.000 đồng tiền thẻ cào kích hoạt. Khi hỏi việc này có bắt buộc không thì anh chị ấy bảo là bắt buộc", một cán bộ lớp nói và cho hay hầu hết sinh viên đều dùng sim của nhà mạng khác nên khá bất ngờ khi nhận thông báo của trường.
Nhiều sinh viên không biết phải xử lý ra sao với số điện thoại đang sử dụng vì nhiều người dùng loại điện thoại chỉ lắp được một sim, chưa kể chi phi phát sinh.
4000-sinh-vien-duoc-yeu-cau-dung-sim-vinaphone
Trường Đại học Ngoại ngữ Huế. Ảnh: Đắc Đức.
Trước phản ứng của sinh viên, lãnh đạo phòng Công tác sinh viên (Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế) thừa nhận đã "mắc sai sót" khi nhà mạng đặt vấn đề cung cấp phần mềm nhận tin nhắn miễn phí để nhà trường và sinh viên tương tác thuận lợi hơn.
"Lỗi của chúng tôi là trước khi triển khai đã không lấy ý kiến sinh viên, khiến nhiều em không hiểu và không đồng tình", ông Trần Quyết Chiến (Phó phòng Công tác sinh viên), nói và cho biết cán bộ Phòng đã nhận trách nhiệm trước lãnh đạo nhà trường.
Theo ông Chiến, mỗi sim Vinaphone khi được kích hoạt nhà mạng cam kết sẽ cộng vào tài khoản số tiền 30.000 đồng/tháng. Riêng với lớp trưởng, ban cán sự lớp, tài khoản sẽ là 50.000 đồng.
Trước quyết định bị sinh viên coi là mang tính "ép buộc", ngày 30/10, lãnh đạo nhà trường đã ban hành văn bản thứ hai, theo đó sinh viên có quyền lựa chọn sử dụng tài khoản miễn phí do trường cung cấp, nhưng vẫn khuyến khích sử dụng để thuận lợi cho công tác trao đổi thông tin.
Tiến sĩ Nguyễn Tình, Phó hiệu trưởng Đại học Ngoại ngữ (Đại học Huế) lý giải, ngoài địa chỉ trang web, nhà trường liên kết với Vinaphone là để tạo điều kiện cho sinh viên cập nhật thông tin học tập cũng như các hoạt động chung khác.
"Do số điện thoại của các em liên tục thay đổi, nhiều em ít vào mạng nên không cập nhật thông tin được", tiến sĩ Tình nói và cho hay việc ban hành văn bản thứ hai, chỉ để giải thích rõ hơn cho văn bản trước đó, vốn còn nhiều điểm bất cập, không rõ ràng khiến sinh viên hiểu nhầm.
"Nhà trường không buộc sinh viên phải dùng sim Vinaphone. Tất cả đều trên tinh thần tự nguyện", vị Hiệu phó thông tin, đồng thời cho biết thêm lãnh đạo nhà trường đang cân nhắc việc liên kết với nhiều nhà mạng khác để sinh viên có nhiều lựa chọn hơn về kênh thông tin.
Ông Nguyễn Xuân Thủy, Giám đốc Trung tâm kinh doanh VNPT (Thừa Thiên – Huế) xác nhận, Vinaphone tặng miễn phí hơn 4.000 sim cho sinh viên Đại học Ngoại ngữ (Đại học Huế). Số tiền 20.000 đồng mà sinh viên bỏ ra là để nạp thẻ và duy trì sử dụng. "Nhà trường hoàn toàn không nhận bất kỳ một khoản nào từ VNPT cũng như sinh viên. Về việc nhân viên Vinaphone triển khai theo hướng bắt buộc, chúng tôi sẽ điều chỉnh lại", ông Thủy nói.

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2015

Cơ hội việc làm cho sinh viên truyền thông, thiết kế

Mức lương khởi điểm của nhân lực ngành sáng tạo khoảng 300-400 USD, trong khi thu nhập bình quân cấp quản lý là 1.000-1.500 USD mỗi tháng.
Truyền thông, thiết kế, phim ảnh, thời trang, âm nhạc, văn học, nghệ thuật… là một số lĩnh vực trong ngành công nghiệp sáng tạo đa dạng. Để cho ra đời sản phẩm, nhà tuyển dụng đòi hỏi người lao động phải đầu tư nhiều chất xám, trí sáng tạo khác biệt và ý tưởng nổi bật. Vì vậy, ngành nghề mới mẻ này thu hút sự quan tâm của không ít bạn trẻ năng động, song cơ hội việc làm vẫn là nỗi băn khoăn của nhiều bậc phụ huynh.
Trên thực tế, đây là một trong những ngành nghề có tốc độ phát triển mạnh mẽ trên thế giới, thu hút đội ngũ nhân lực chất lượng cao với mức lương và cơ hội thăng tiến hấp dẫn. Tại các kinh đô như New York, London, Dubai..., các công việc sáng tạo rất được coi trọng và liên quan mật thiết với những ngành công nghiệp lâu đời khác. Ở Việt Nam, ngày càng có nhiều cơ hội nghề nghiệp rộng mở cho sinh viên các thành phố lớn như Hà Nội và TP HCM. 
Chẳng hạn như ngành thời trang, cơ hội không chỉ dành cho nhà thiết kế, người mẫu, nhiếp ảnh gia… Phía sau sân khấu là một bộ máy nhân lực khổng lồ chịu đảm nhiệm các công việc khác nhau trong một quy trình, từ nghiên cứu thị trường, thiết kế, sản xuất cho đến đàm phán hợp đồng, tiếp thị và phân phối sản phẩm… Hội nhập kinh tế và văn hóa khiến hàng loạt thương hiệu thời trang lớn gia nhập thị trường, đòi hỏi nguồn nhân lực trẻ được đào tạo bài bản, có hiểu biết sâu rộng về thị trường nội địa cũng như quy trình kinh doanh. Khảo sát của Tổng cục Thống kê Việt Nam cuối năm 2014 cho thấy, mức lương khởi điểm của nhân lực ngành sáng tạo khoảng 300-400 USD, trong khi thu nhập bình quân cấp quản lý là 1.000-1.500 USD mỗi tháng.
Bản thân sáng tạo không phải tố chất trời phú, mà là một kỹ năng có thể học hỏi và luyện tập. Nếu được nuôi dưỡng óc sáng tạo từ bé, các bạn trẻ dễ dàng bộc lộ thiên hướng sáng tạo khi lớn lên. Nếu chưa gặp môi trường và phương pháp phù hợp, bạn vẫn có thể phát triển kỹ năng này thông qua trường lớp.
polyad
Khả năng sáng tạo có thể rèn luyện trong quá trình học hỏi và luyện tập.
Tại các trường đào tạo ngành học sáng tạo, sinh viên sẽ được rèn luyện bài bản bằng các bài tập kích thích tư duy sáng tạo như phân tích các chiến dịch nổi tiếng, thảo luận ý tưởng theo nhóm... Để biến ý tưởng này thành hiện thực, giáo viên sẽ hướng dẫn cách lên kế hoạch chi tiết, liên hệ khách hàng đến giám sát quá trình sản phẩm thành hình...
polyad
Sinh viên RMIT Việt Nam tham gia chiến dịch “Phá vỡ bức tường vô cảm”.
Trước khi đăng ký học, điều quan trọng là bạn cần hiểu bản thân có thật sự phù hợp với ngành sáng tạo hay không. Chuỗi sự kiện tương tác “Ngày hội trải nghiệm” do Đại học RMIT Việt Nam tổ chức là cơ hội để học sinh tìm hiểu về ngành học mới mẻ này, lắng nghe những chia sẻ thực tế của giảng viên, cựu sinh viên và đại diện các công ty hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo. Ngoài ra, học sinh còn được thử sức với các lớp học lên ý tưởng quảng cáo, làm mô hình 3D, xây dựng phong cách thời trang… với giảng viên 3 ngành truyền thông, thiết kế, quản lý và kinh doanh thời trang.

Những câu hỏi trong buổi phỏng vấn đề bạt giáo sư tại Australia

'Để thử tầm nhìn của người được đề bạt giáo sư, Hội đồng sẽ đưa ra câu hỏi xoáy vào 3 khía cạnh chính là chất lượng nghiên cứu khoa học, phục vụ cộng đồng và tầm nhìn', ông Nguyễn Văn Tuấn chia sẻ về quá trình bổ nhiệm giáo sư của mình. 
Ở Australia, như tôi trình bày trước đây, các trường đại học có 4 cấp chức vụ học thuật: lecturer (giảng viên), senior lecturer (giảng viên cao cấp), associate professor (phó giáo sư) và professor (giáo sư). Nhưng các đại học Mỹ có 3 cấp: assistant professor (trợ lý giáo sư), phó giáo sư, và giáo sư. Những năm gần đây, một số đại học Australia bắt đầu theo mô hình của Mỹ, tức chỉ có 3 bậc giáo sư. Đại học Tôn Đức Thắng cũng theo mô hình của Mỹ, với 3 bậc giáo sư.
Khi ở Mỹ tôi được bổ nhiệm phó giáo sư, nhưng khi về Australia, Đại học New South Wales (UNSW) bổ nhiệm tôi là giảng viên cao cấp, vì họ cho rằng bậc phó giáo sư của Mỹ tương đương với phó giáo sư của Australia. Tôi thấy cách giải thích đó chưa mấy thuyết phục, nhưng cũng chẳng đặt thành vấn đề. Lúc đó, tôi rất hào hứng với một dự án mới, nên không nghĩ đến mấy danh xưng như thế.
Rồi cũng đến thời điểm tôi hội đủ điều kiện để đệ hồ sơ xin đề bạt chức vụ giáo sư. Ở UNSW dạo đó, tất cả ứng viên ngành y muốn nộp hồ sơ xin đề bạt giáo sư đều phải hội kiến với khoa trưởng. Tôi cũng có một buổi nói chuyện thân mật với ông khoa trưởng, vốn là chỗ quen biết của tôi. Hôm gặp mặt, ông và tôi chỉ nói chuyện quá khứ và tương lai chẳng liên quan gì đến công việc, và ông cũng không đề cập gì đến hồ sơ của tôi. Đến khi bắt tay tạm biệt, ông ấy nói: À, suýt nữa tôi quên, tôi đã xem hồ sơ của anh rồi, anh cứ đệ trình lên Hội đồng học thuật. Nói cách khác, ông "bật đèn xanh" cho tôi.
Quy trình bổ nhiệm được giao cho Hội đồng học thuật của UNSW phụ trách. Theo đó, hồ sơ của tôi được gửi cho 8 đồng nghiệp ngoài trường thẩm định và bình duyệt; 4 người là do tôi chọn và 4 người do Hội đồng chọn. Sau vài tháng, Hội đồng nhận được thẩm định của 8 giáo sư, và nhìn qua đề nghị của họ, Hội đồng học thuật mời tôi đến phỏng vấn. Được phỏng vấn là khả năng thành công gần như 90%. Do đó, các ứng viên được trường UNSW cho đi học những lớp tập huấn về cách trả lời phỏng vấn và thậm chí có những phiên phỏng vấn mô phỏng.
Khổ nỗi ngày phỏng vấn tôi rơi đúng vào ngày tôi phải công tác ở Hà Nội, mà tôi không thể dời ngày được. Còn Hội đồng học thuật UNSW thì chắc chắn không dời ngày, vì tập hợp được một hội đồng như thế rất khó khăn. Thế là họ cho tôi được phỏng vấn qua... điện thoại. Điều này làm tôi cảm thấy áy náy, vì tôi sợ những người trong hội đồng nghĩ lầm là tôi đi nghỉ mát, trong khi họ đang làm việc cực nhọc vì tôi. Nhưng tôi hy vọng là đến lúc phỏng vấn sẽ giải trình cho sòng phẳng.
Hà Nội đúng 6h sáng, chuông điện thoại phòng khách sạn reo. Không chờ đến tiếng chuông thứ hai, tôi nhấc ngay điện thoại. Phía bên đầu dây Sydney là tiếng nói của ông khoa trưởng S. Ông hỏi tôi thời tiết Hà Nội ra sao và vài câu hỏi thăm khác. Lúc đó, lòng tôi nóng như đốt, mà ông S thì cứ nhẩn nhơ hỏi chuyện. Nhưng may quá, ông nói để tiết kiệm thì giờ, ông sẽ đi vào cuộc phỏng vấn.
Mở đầu, ông nói về quy định của cuộc phỏng vấn và giới thiệu thành viên. Theo "luật chơi", tôi có quyền phản đối câu hỏi, nhưng không có quyền chất vấn lại người hỏi; còn người hỏi không có quyền hỏi những câu mang tính cá nhân hay xâm phạm cá nhân. Cuộc phỏng vấn sẽ được ghi âm lại tất cả những câu hỏi và trả lời. Nếu tôi đồng ý "luật chơi" thì tiếp tục, còn không thì ngừng. Nghe qua mấy "luật chơi" này tôi cũng chẳng ngạc nhiên vì mình từng là người phỏng vấn người khác, nhưng vì lý do pháp lý nên ông phải nói rõ ràng như thế.
Ông S giới thiệu những thành viên trong hội đồng, gồm có 8 giáo sư, dưới sự chủ tọa của ông. Trong số 8 người này, có một vài người trong khoa y (họ là chuyên gia về tim mạch, nội tiết, thần kinh, và di truyền học), một người từ khoa khoa học (science faculty), và 2 người từ Đại học Sydney. Tôi không quen biết ai trong 8 người này, nhưng có nghe tên. Có thể đó cũng là cách họ chọn người để đảm bảo tính khách quan. Sếp của tôi cũng có mặt trong cuộc phỏng vấn, nhưng ông chỉ dự với vai trò “quan sát viên”, ngồi ở góc phòng, chỉ được nghe chứ không được có ý kiến gì cả.
Tám người này luân phiên hỏi tôi, có câu hỏi họ yêu cầu tôi chỉ trả lời trong một số phút nhất định. Họ không bình luận gì về câu trả lời, mà chỉ tập trung lắng nghe tôi nói. Những câu hỏi mà tôi còn nhớ là:
- Nói cho chúng tôi biết tại sao ông muốn đề bạt lên giáo sư? Ông tự đánh giá mình so với các tiêu chuẩn của trường như thế nào? Ông có 5 phút để trả lời. Đây là câu hỏi của khoa trưởng, và ông chỉ hỏi một câu duy nhất.
- Nói cho chúng tôi nghe 3 công trình nghiên cứu tiêu biểu của ông. Xin đừng nói quá chi tiết, chúng tôi chỉ muốn nghe câu chuyện đằng sau của công trình và ảnh hưởng như thế nào?
- Nếu ông bước vào một hội nghị quốc tế, người ta có nhận ra ông không? Nếu nhận ra thì ông được biết đến về lĩnh vực gì?
- Trong số hàng trăm công trình khoa học và bài báo ông liệt kê, có bao nhiêu ông thực sự là người chủ trì, bao nhiêu là hợp tác, và bao nhiêu là do nghiên cứu sinh của ông làm và ông chỉ đứng tên tác giả?
- Ông làm việc với giáo sư E khá lâu và ông ấy cũng là thầy cũ của ông, vậy ông có thể chứng minh cho chúng tôi biết ông độc lập với thầy cũ mình như thế nào?
- Trong thời gian 1999-2001, công bố quốc tế của ông có vẻ suy giảm. Tại sao?
- Ông tự đánh giá chất lượng các công trình khoa học của ông như thế nào? Xin ngắn gọn!
- Chỉ số trích dẫn của ông rất ấn tượng. Xin nói cho chúng tôi biết có bao nhiêu bài báo chưa bao giờ được trích dẫn, và ông có bình luận gì không?
- Triết lý đào tạo tiến sĩ của ông là gì? Ông có 2 phút để nói.
- Nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ của ông có vẻ thành công nhiều. Bao nhiêu thành công là do ông và bao nhiêu là do công sức của họ?
- Ông làm gì để phát triển labo nghiên cứu của ông trong tương lai, và thu hút thêm hậu tiến sĩ?
- Nếu là khoa trưởng y khoa của UNSW, ông sẽ làm gì để nâng cao vị thế và uy tín của khoa trên trường quốc tế?
- Ông có đóng góp gì cho chính sách khoa học và y tế của Australia không? Xin đơn cử 2 đóng góp tiêu biểu.
- Ông nghĩ gì về y học thực chứng? Theo ông, y khoa nên đi về định hướng nào trong tương lai?
- Ông liệt kê một số cuốn sách xuất bản mà ông xem là đóng góp cho cộng đồng. Thì giờ đâu mà ông làm nhiều thế? - Đây là câu hỏi cuối cùng, ông giáo sư hỏi tôi câu này có vẻ đùa vui vì tôi nghe ông ấy cười trong điện thoại.
Nói chung, những câu hỏi xoáy vào 3 khía cạnh chính là chất lượng nghiên cứu khoa học, phục vụ cộng đồng, và tầm nhìn. Hội đồng không quan tâm đến những chi tiết hay những con số, vì họ đã có trong tay nhận xét của 8 giáo sư từ bên ngoài thẩm định, họ chỉ xoay quanh những chi tiết của vài công trình tiêu biểu.
Tôi nghĩ mình trả lời thoả đáng, nhưng như bất cứ việc gì, tôi nghĩ nếu làm lại lần nữa, tôi sẽ ứng xử tốt hơn. Như nói trên, trước khi phỏng vấn tôi đã được trường tập dượt và cũng biết được những nguyên tắc của cuộc phỏng vấn. Tuy nhiên, vẫn có vài câu hỏi tôi thiếu chuẩn bị nên trả lời chưa được thông lắm. Chẳng hạn câu hỏi có bao nhiêu bài chưa bao giờ được trích dẫn, vì không có con số cụ thể nên tôi hơi chao đảo và nói… lạc đề (ngay cả sếp tôi ngồi nghe cũng nhận ra được điều này).
Những câu hỏi về chính sách khoa học, về “nếu là khoa trưởng” cũng làm tôi lúng túng, vì chưa bao giờ nghĩ họ hỏi. Phải mất cả vài chục giây định thần để trả lời.
Tôi nghiệm ra những câu hỏi "cắc cớ" nhưng quan trọng này là nhằm thử tầm nhìn của tôi. Tôi nhớ đến câu nói của ông viện trưởng nơi tôi công tác trước đây rằng làm khoa học cần phải quan tâm đến cái mà ông ấy gọi là “big picture” (bức tranh lớn) chứ không chỉ chúi đầu vào những chuyện nhỏ. Tôi trả lời dựa vào những gì mình đã viết trước đây trên báo đại chúng, và thêm vài câu về định hướng nghiên cứu để khoa y UNSW có thể sánh vai với các đại học hàng đầu bên Mỹ. Tôi không biết ông khoa trưởng nghĩ gì về câu trả lời đó, nhưng rõ ràng là tôi khác quan điểm với ông ấy.
Thật ra, tôi thấy hội đồng học thuật có vẻ thân thiện, tạo điều kiện cho tôi trả lời hay giải thích thêm. Trong 8 người phỏng vấn, tôi chú ý đến 2 người hỏi một số câu có thể gọi là thách thức, như chú ý đến số liệu, định lượng mức độ độc lập, hay câu hỏi mang tính “khiêu khích” rằng thành tựu tôi chỉ là do nghiên cứu sinh làm, hay tôi chỉ nhân danh sếp mà lấy công của học trò. Nhưng tôi lại thấy đó là cơ hội để mình giải thích trường hợp của mình tốt hơn.
Sáu tháng sau buổi phỏng vấn, tôi nhận lá thư đề bạt từ hiệu trưởng UNSW. Xin nói thêm rằng ông hiệu trưởng không có bằng tiến sĩ, xuất thân là chủ tịch của một tập đoàn truyền thông nổi tiếng của Australia. Ông được hội đồng học thuật UNSW bổ nhiệm chức danh giáo sư sau khi ông nhậm chức hiệu trưởng UNSW. Lá thư viết:
"Tuấn mến,
Tôi rất vui mừng để báo cho anh biết rằng tôi đã phê chuẩn đề nghị của Ủy ban chuyên trách chuyên môn đề bạt anh lên chức giáo sư y khoa.
Anh được Ủy ban đề bạt trường UNSW tiến cử dựa vào những đánh giá cao nhất của các đồng nghiệp anh. Tôi rất hài lòng để nói rằng những đánh giá của các giáo sư đồng nghiệp anh được tán thành bởi Ủy ban đề bạt trường UNSW.
Được đề bạt lên chức giáo sư của UNSW là một thành tự quan trọng, dựa trên những công trình học thuật và nỗ lực đã được phản ảnh qua bộ tiêu chuẩn. Xin anh nhận lời chúc mừng nồng nhiệt nhất của tôi. Tôi kỳ vọng nghe thêm nhiều thành tựu ngoại hạng của anh trong tương lai.
Kính thư,
Fred G Hilmer
Hiệu trưởng"
Nói chung, quy trình bổ nhiệm và đề bạt ở trường UNSW mà tôi đã qua thì khá đơn giản và minh bạch. Tất cả quy trình và tiêu chuẩn đề bạt cho mỗi chức vụ đều được công bố trên mạng. Như thấy trên, hội đồng ở trường chỉ đóng vai trò trung gian, vì việc thẩm định đã được 8 giáo sư ngoài phụ trách. Dĩ nhiên, những người này thẩm định dựa vào tiêu chuẩn của trường, và những tiêu chuẩn đó phản ảnh đẳng cấp của trường. Đó chính là lý do tại sao trường yêu cầu tôi phải chỉ ra 3 người mà tôi xem là tương đương trên thế giới. Ở Australia không có lễ tiến phong giáo sư như ở Việt Nam.
Tôi nghĩ một quy trình gọn nhẹ như thế cũng có thể thực hiện ở Việt Nam. Nhà nước, qua Bộ Giáo dục và Đào tạo, có thể quản lý quy trình và bộ tiêu chuẩn cho từng trường, còn việc bổ nhiệm nên giao về trường với bình duyệt từ ngoài. Những bất cập trong việc tiến phong giáo sư trong quá khứ chúng ta không sửa được, nhưng chúng ta có cơ hội để kiến tạo một tương lai tốt hơn, và đây là thời điểm để kiến tạo.

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2015

10 lý do bạn cần học tiếng Anh

Nếu bạn đang lưỡng lự, thiếu quyết tâm trước thử thách học tiếng Anh, 10 lý do sau sẽ cho bạn thêm động lực để làm chủ thứ ngôn ngữ này.

hoc-tieng-anh-9302-1441684663.jpg
1. Tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất
Dù đứng thứ hai về lượng người sử dụng sau tiếng Trung Quốc, Anh ngữ vẫn là thứ tiếng chúng ta có thể dùng trên diện rộng nhất, tại nhiều quốc gia nhất. Ngoài nước Anh, có 60 trên tổng số 196 quốc gia xem tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức. 
Chưa hết, Anh ngữ cũng được sử dụng trong ngoại giao toàn cầu, là thứ tiếng chính thức của Liên minh châu Âu, của Liên hợp Quốc, khối NATO, Hiệp hội thương mại tự do châu Âu và nhiều tổ chức, liên minh quốc tế k hác. 
Người ta thống kê có khoảng 1,5 tỷ người đang nói tiếng Anh trên toàn cầu, và khoảng một tỷ người khác đang trong quá trình học nó. Đây là lý do khiến tiếng Anh mang lại nhiều lợi ích hơn so với những thứ tiếng ít có cơ hội sử dụng. 
2. Tiếng Anh mở ra nhiều cơ hội
Ngay tại một đất nước mà tiếng Anh không phải là ngôn ngữ chính thức, tiếng Anh vẫn được xem là "lingua franca" - một thứ ngôn ngữ chung cho những người có xuất xứ khác nhau.
Khả năng tiếng Anh giúp bạn giao tiếp với nhiều người đến từ nhiều vùng đất khác nhau và sẽ có lợi cho bạn vào một ngày nào đó khi cần xin việc. Khi đi du lịch, bạn sẽ không cần lo lắng khi bị lạc đường ở một đất nước xa lạ, tự tin khi gọi món ăn và có thể trò chuyện với người dân bản xứ về cuộc sống của họ. 
Với tiếng Anh, bạn có thêm nhiều lựa chọn để làm việc trong những ngành bắt buộc nhân viên phải thành thạo thứ ngôn ngữ này như hàng không, du lịch, phim ảnh...
3. Tiếng Anh giúp bạn hấp dẫn hơn trong mắt nhà tuyển dụng
Biết thêm một thứ ngoại ngữ là bằng chứng chứng minh sức mạnh trí tuệ của một ứng viên. Nó cho nhà tuyển dụng thấy rằng bạn đã đầu tư bao nhiêu thời gian, công sức vào việc làm chủ một thứ ngôn ngữ mới. 
Đối diện với một ứng viên tiềm năng giỏi tiếng Anh, các nhà tuyển dụng sẽ nghĩ ngay đến phương án sẽ sử dụng khả năng ấy vào những việc gì. Những hoạt động của công ty liên quan đến yếu tố nước ngoài, quốc tế sẽ có thể sẽ được dành cho người nào giỏi ngoại ngữ.
4. Nhờ tiếng Anh, bạn có thể tiếp cận các trường đại học hàng đầu
Tiếng Anh được sử dụng rộng rãi ở cấp độ đại học. Từ Anh đến Mỹ, các trường đại học hàng đầu đều yêu cầu vốn tiếng Anh trôi chảy. Do đó, nếu dự định của bạn là đi du học, tiếng Anh là thứ đầu tiên cần nghĩ đến.
tieu-thuyet-tieng-anh-2320-1441684663.jp
5. Tiếng Anh giúp bạn tiếp cận những tác phẩm vĩ đại của thế giới.
Với vốn tiếng Anh nhất định, bạn có thể thưởng thức các tác phẩm văn học từ những nhà văn nổi tiếng. Đọc bản gốc tiểu thuyết Đồi gió hú của Emily Bronte, các tác phẩm của George Orwell hay Jane Eyre, Kiêu hãnh và Định kiến của Jane Austen... sẽ mang lại cho bạn những cảm nhận chân thực mà người dịch không bao giờ chuyển tải hết được.
6. Tiếng Anh giúp bạn xem phim dễ dàng
Đa số các bộ phim xuất sắc, nổi tiếng nhất được làm ở Mỹ hoặc các nước nói tiếng Anh. Bạn đã bao giờ xem một bộ phim và phải đọc hết phụ đề dịch trong khi vẫn cố gắng không bỏ lỡ mọi cảnh quay. Nếu có vốn tiếng Anh tốt, bạn sẽ không cần phải vất vả đến thế.
7. Nhờ tiếng Anh, bạn sẽ dễ dàng tham dự các sự kiện, hội nghị quốc tế
Hầu hết sự kiện thể thao quốc tế đều dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức, tương tự các hội nghị, sự kiện toàn cầu khác. Nếu công việc hay sở thích của bạn là được hòa mình vào những sự kiện thế này, bạn cần học tiếng Anh. Không chỉ để nghe hiểu, nó giúp bạn hòa mình vào vô số hoạt động trong sự kiện, tận dụng các cơ hội để phát triển bản thân hay nghề nghiệp.
8. Tiếng Anh có bộ chữ cái đơn giản và thông dụng nhất
Tiếng Anh sở hữu bộ chữ cái Latinh thông dụng, tương đồng với nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Do đó, so với tiếng Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ảrập hay Thái Lan, tiếng Anh vẫn được xem là dễ hơn.
Ngoài ra, tiếng Anh cũng có những yếu tố đơn giản nhất định, ví dụ đại từ nhân xưng chỉ cần một từ duy nhất "I" cho ngôi thứ nhất và "you" cho ngôi thứ hai, bất luận trong các tình huống lịch sự hay suồng sã, không phức tạp như tiếng Pháp hay tiếng Việt.
9. Tiếng Anh cho bạn kiến thức phong phú
55% website trên thế giới viết bằng tiếng Anh, nhiều hơn tất cả các thứ tiếng khác cộng lại, bỏ xa thứ ngôn ngữ được dùng nhiều thứ hai là tiếng Nga với 6% website. Bạn có thể tìm bất cứ thông tin gì cần biết bằng cách gõ từ khóa bằng tiếng Anh.
Tiếng Anh cũng là ngôn ngữ của khoa học. Có 95% bài viết được thu thập tại Viện Thông tin Khoa học, Mỹ được viết bằng tiếng Anh, dù một nửa trong số đó đến từ các nước không nói thứ ngôn ngữ này.
10. Tiếng Anh là thử thách thú vị
Không có nghi ngờ gì, tiếng Anh là một trong những ngôn ngữ khá khó học. Ví dụ, các phát âm đầy tính bất ngờ vì cách đọc không liên quan với viết, vô số sự bất quy tắc buộc người học phải thuộc nằm lòng. Nếu bạn đang cần một thử thách, tiếng Anh là lựa chọn thú vị. Thử thách không chỉ nằm ở việc học tiếng. Sau khi đã có vốn ngôn ngữ kha khá, nhiều bài học mới tiếp tục mở ra cho bạn như những kỹ năng giao tiếp, làm chủ tình huống, kỹ năng sống bằng tiếng Anh.

Hai sinh viên bị đình chỉ học vì nhờ người thi hộ

Xem xét dấu hiệu bất thường trên CMND của hai thí sinh, Thanh tra trường Đại học Công nghệ TP HCM xác định là giả.
Ông Nguyễn Quốc Anh - Trưởng phòng tuyển sinh và truyền thông Đại học Công nghệ TP HCM - cho biết, trường tổ chức thi kết thúc môn học kỳ 2hôm 1/9. Trong giờ thi môn chuyên ngành (liên thông Đại học ngành Xây dựng), giám thị nghi ngờ một số thí sinh dùng CMND giả.
unnamed-4975-1441677235.jpg
Sinh viên trường Đại học Công nghệ TP HCM. Ảnh minh họa
Thanh tra của trường kiểm tra và phát hiện 2 sinh viên dùng CMND thật nhưng thay hình giả và ép plastic lại. Tuy nhiên, dấu mộc trên các tấm hình không trùng khớp, rõ ràng. Sau khi đối chiếu, thanh tra của trường đã yêu cầu đình chỉ thi 2 sinh viên giả này. 
"Đối với hai sinh viên nhờ người thi hộ, trường đã ra quyết định hủy kết quả thi và đình chỉ học tập một năm", ông Quốc Anh nói và cho biết đây chỉ là kỳ thi học kỳ trong phạm vi của trường, chưa có quy định xử lý người được nhờ thi hộ nên trường chỉ có động thái đuổi họ ra khỏi phòng thi.
Theo quy định của trường, nếu không mang thẻ sinh viên khi vào phòng thi thí sinh phải xuất trình CMND và trường sẽ chụp ảnh, lăn tay người này. Trước đó, trường Đại học Công nghệ TP HCM từng xảy ra một số trường hợp thi hộ.

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2015

27 tuổi có quá muộn để đi học

Tôi năm nay 27 tuổi, đã có vợ và một con, năm nay cũng tốt nghiệp THPT sau 5 năm học lại tại Trường Giáo dục thường xuyên.
Đến ngày 20/8 là hết hạn nộp hồ sơ dự thi đại học, cao đẳng rồi mà tôi vẫn băn khoăn không biết có nên tiếp tục theo học cao đẳng hay không vì tôi không đủ điểm để học đại học.
27 tuổi học cao đẳng 3 năm nữa là 30 tuổi. Rồi để liên thông lên đại học mất 1-2 năm nữa, lúc đó đã 32 tuổi rồi. Thật sự là rất lâu. Mà tôi để ý nhiều doanh nghiệp tuyển dụng người không quá 30 tuổi nên tôi rất lo lắng cho tương lai sau này của mình. Xin mọi người tư vấn giúp tôi. Xin cảm ơn!

Thủ khoa 29,75 điểm khối B được 29 điểm khối A

Là học sinh trường làng ở huyện Xuân Trường (Nam Định), nhưng trong kỳ thi THPT quốc gia vừa qua, Nguyễn Hoàng Hải đã xuất sắc vượt qua nhiều thí sinh có điều kiện học tập tốt hơn, trở thành thủ khoa khối B với 29,75 điểm.

Điểm thi các môn của Nguyễn Hoàng Hải (lớp 12A1, THPT Xuân Trường B, Nam Định) là: Toán 10; Hóa 10; Sinh 9,75; Vật lý 9, Ngữ văn 6; tiếng Anh 7,25. Tính theo khối B em được 29,75 điểm, trở thành một trong 2 thủ khoa ở khối thi này. Em cũng là một trong 9 học sinh cả nước đạt 29 điểm khối A.
thu-khoa-khoi-B-Nguyen-Hoang-H-2219-1522
Nguyễn Hoàng Hải, thủ khoa khối B của cả nước đạt 29 điểm khối A, 27,25 điểm khối A1. Ảnh: NVCC.
Chia sẻ với VnExpress, Nguyễn Hoàng Hải cho biết khi thi xong em tự tin đạt khoảng 28-29 điểm cả hai khối A và B nhưng chưa từng nghĩ sẽ trở thành thủ khoa. Nam sinh hài lòng với điểm số các môn, đặc biệt là môn Sinh kết quả vượt quá mục tiêu đặt ra. "Không hiểu hôm đó em làm bài thăng hoa thế nào mà lại đạt 9,75 điểm", Hải dí dỏm nói và cho biết ban đầu em nghĩ chỉ được khoảng 9 điểm môn này.
Gia đình có truyền thống làm giáo viên nhưng Nguyễn Hoàng Hải lại chọn ngành Y đa khoa của Đại học Y Hà Nội để nộp hồ sơ. Giữa 2 nghề mà ông bà vẫn nói là cao quý nhất - nhà giào và ngành Y - em chọn cái thứ hai theo sở thích và vì tự thấy "không có năng khiếu đứng lớp". "Học ngành này vất vả nhưng cái gì cũng có giá của nó, học xong là có công ăn việc làm luôn. Ông bà và bản thân hay ốm vặt nên em cũng muốn học ngành này để có thể chữa bệnh cho mọi người", thủ khoa khối B tâm sự.
Chia sẻ về kinh nghiệm học tập, Nguyễn Hoàng Hải cho biết không đi học thêm bên ngoài mà chỉ học ở trường, cố gắng ghi nhớ hết kiến thức thầy cô giảng dạy. Về nhà, Hải chỉ dành thêm 3 tiếng để luyện đề và tìm hiểu kiến thức nâng cao. Em cười bảo, với mình 3 tiếng tự học là nhiều và mệt lắm rồi, bởi khi ấy phải tập trung toàn lực học tập. "Khi luyện đề em thường chú ý tăng dần tốc độ làm bài, luyện trình bày để đạt điểm tối đa và tìm hiểu nguyên nhân lỗi sai rồi rút kinh nghiệm cho lần sau", Hải bật mí.
Có mẹ là giáo viên dạy Hóa học 3 năm cấp ba cho mình, nhưng Nguyễn Hoàng Hải cho biết ít khi được mẹ kèm cặp bài thêm lúc ở nhà. Cách giúp con học hiệu quả của mẹ Hải là tranh thủ thời gian làm việc nhà sẽ đố con những câu liên quan đến lý thuyết Hóa. Nhờ phương pháp đó, chàng thủ khoa đại học khối B đã ghi nhớ được khối kiến thức lý thuyết khổng lồ của môn này và đạt 10 điểm tuyệt đối khi thi THPT quốc gia.
thu-khoa-khoi-B-Nguyen-Hoang-H-6092-8206
Ngoài thời gian học tập, Nguyễn Hoàng Hải chăm chỉ tập võ, chơi thể thao. Ảnh:NVCC.
Thừa nhận vì bận nên ít có thời gian kèm con học bài, bà Vũ Thị Hoàng Ngân (mẹ Hải) tự hào cho biết, bù lại con mình có ý thức tự giác rất cao. "Hải cá tính, đã nói là làm. Trong học tập con rất dứt điểm, không bao giờ để bài hôm nay sang đến ngày mai", bà Ngân nói và cho hay dù đạt nhiều giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi như giải Nhất tỉnh môn Toán lớp 12… nhưng Hải luôn khiêm tốn, không thích bố mẹ khoe thành tích với mọi người. Hôm biết tin con trở thành thủ khoa khối B cả nước, điểm khối A cũng thuộc top đầu, bà Ngân phấn khởi khoe với bạn bè và được con trai "nhắc nhở" rằng "Con ngại".
Dù Hoàng Hải không nối nghiệp dạy học nhưng mẹ em cho biết, cả gia đình đều ủng hộ quyết định vào ngành Y vì "đâu cũng là thầy". Hải là con "độc" trong nhà nhưng khá chăm chỉ giúp đỡ bố mẹ, ông bà từ việc nặng nhọc đến chuyện nấu ăn, giặt giũ. Những ngày nghỉ học rảnh rỗi, em thường xuống trại giống nơi bố mình làm việc để gieo hạt, trồng cây cùng.
"Bố làm việc đến tối mới về, hai mẹ con đều sáng chiều tới trường nên buổi trưa nếu về sớm hơn mẹ, Hải sẽ làm nhiệm vụ nấu cơm", bà Ngân kể chuyện. Người mẹ này cười vui cho biết, vì chăm tập thể thao và đã được lên đai nâu ở môn Karatedo nên con trai đã đạt 65 kg, khá rắn rỏi.
Bạn học cùng lớp Phạm Xuân Lượng chia sẻ, môn thể thao nào thủ khoa Hoàng Hải cũng hăng hái tham gia. Nam sinh này không đi học thêm nhưng điểm thi giữa kỳ, cuối kỳ các năm học luôn đứng vị trí thủ khoa toàn khối. Hải cũng thường xuyên giúp đỡ bạn bè trong việc học hành. "Bạn ấy thông minh và khiêm tốn. Dù có mẹ là giáo viên ở trường nhưng chưa bao giờ có ai xì xèo việc Hải đạt thành tích tốt mà mọi người đều khâm phục bạn ấy", Lượng nói.
Giáo viên chủ nhiệm lớp, thạc sĩ Bùi Đức Quang đánh giá cao khả năng tự học, ý chí vươn lên và tính cách hòa đồng, hay giúp đỡ bạn bè của nam sinh này. Thầy Quang cho biết, vì luôn học giỏi, đều các môn nên thành tích 29 điểm khối A, 29,75 điểm khối B của Nguyễn Hoàng Hải không khiến mọi người bất ngờ. Ngoài dẫn đầu trường về điểm thi hai khối này, Hải còn chiếm vị trí số một cho kết quả thi khối A1 với 27,25 điểm.

TS Lương Hoài Nam đề xuất bậc tiểu học 6 năm

Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đang thiếu tham chiếu và chưa ứng dụng Hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về phân loại giáo dục của UNESCO nên chưa tương thích cao với hệ thống giáo dục của các nước có nền giáo dục tiên tiến.
TS Lương Hoài Nam vừa gửi văn bản đến Bộ Giáo dục và Đào tạo góp ý cho dự thảo “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể”. Theo đó, ông Nam cho rằng cần đặt ra một số mục tiêu đổi mới giáo dục cụ thể đủ lớn và có tính khả thi, làm sao để tất cả cơ quan nhà nước, toàn ngành giáo dục và đông đảo tầng lớn nhân dân, học sinh thông hiểu và chia sẻ đây là một việc quan trọng, thiết thực, đáng làm, phải làm, không làm không được.
TS Nam nhận thấy, hiện nay có sự mâu thuẫn phổ biến trước các đề án đổi mới. Một mặt, người dân không hài lòng với tình hình hiện tại, không ít người lên tiếng phê phán, chỉ trích. Nhưng mặt khác, họ lại thiếu niềm tin vào năng lực thay đổi, cải thiện tình hình của cơ quan quản lý chủ trì đề án. Không ít người cho rằng các đề án đổi mới chẳng qua chỉ là cách cơ quan quản lý “vẽ việc tiêu tiền”, vì lợi ích nhóm, còn kết quả, hiệu quả thu được thì đáng nghi ngờ. Mâu thuẫn này cũng đã và đang diễn ra đối với đề án đổi mới giáo dục Việt Nam.
"Cuối thế kỷ 19, khi người dân Nhật Bản đồng thuận với chủ trương đổi mới giáo dục của Hoàng đế Minh Trị theo tinh thần của Fukuzawa, họ đã không ngần ngại bỏ tiền của gia đình ra đóng góp xây trường, mời giáo viên nước ngoài sang Nhật Bản dạy cho con em. Nhờ sự chia sẻ, ủng hộ của người dân Nhật Bản, công cuộc đổi mới giáo dục thời Minh Trị đã thành công rực rỡ, biến Nhật Bản từ một quốc gia lệ thuộc thành cường quốc kinh tế, quân sự", ông Nam dẫn chứng và khẳng định, có được sự ủng hộ của người dân thì đổi mới giáo dục ở Việt Nam mới thành công.
10405500-10204799158166605-772-7725-8401
TS Lương Hoài Nam luôn trăn trở với giáo dục Việt Nam.
Cần giải quyết nhược điểm của 'người Việt Nam điển hình'
Theo TS Nam, một trong những mục tiêu quan trọng nhất của lần đổi mới giáo dục này là giải quyết những yếu kém, nhược điểm của "con người Việt Nam điển hình" đã và đang cản trở khả năng phát triển của mỗi cá nhân và đất nước, để hình thành những thế hệ công dân Việt Nam có phẩm chất, năng lực, trình độ vượt bậc, có cơ hội phát triển và cuộc sống tốt hơn.
Những yếu kém, nhược điểm của “con người Việt Nam điển hình” gồm có: Hiểu biết luật pháp quốc gia và quốc tế hạn chế; Sống và làm việc cảm tính, duy tình hơn duy lý, dễ dãi, xuề xoà, tính kỷ luật thấp; Khả năng sáng tạo công nghệ và làm công nghiệp kém; Ngoại ngữ (tiếng Anh) yếu...
Phải ứng dụng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế
TS Nam cũng cho rằng, dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đang thiếu tham chiếu và chưa ứng dụng "Hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về phân loại giáo dục" của UNESCO ("International Standard Classification of Education - ISCED"), làm cho Chương trình giáo dục phổ thông (dự thảo) chưa tương thích cao với các hệ thống giáo dục của các nước có nền giáo dục tiên tiến. Đây là một khiếm khuyết lớn.
Qua nghiên cứu ISCED và một số nền giáo dục tiên tiến như Anh, Mỹ, Phần Lan, Singapore…, TS Nam cho rằng ISCED là bộ tài liệu hướng dẫn, “bộ khung” vô cùng quan trọng cho việc xây dựng một hệ thống giáo dục quốc gia (hoặc đổi mới từ hệ thống giáo dục hiện tại). ISCED nêu rõ kết cấu các bậc học (6 bậc học theo ISCED 1997, 8 bậc học theo ISCED 2011), tiêu chuẩn đầu vào, mục tiêu đầu ra của mỗi bậc học, cách phân luồng học sinh trong các bậc học để học sinh phát huy tối đa tố chất, năng khiếu, nhu cầu hướng nghiệp của cá nhân. Thực tế là hệ thống giáo dục của nhiều nước tiên tiến tương thích rất cao với ISCED (cũng có thể ISCED được xây dựng trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của các nền giáo dục tiên tiến).
Nếu Bộ Giáo dục không lấy ISCED làm xuất phát điểm quan trọng cho việc xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, mà lại nghiên cứu ngay vào hệ thống giáo dục của các nước cụ thể thì khó có thể tạo ra được một hệ thống giáo dục khoa học, với các liên kết nội dung chặt chẽ trong toàn bộ hệ thống giáo dục. Bởi vì từ một bộ khung tốt có thể xây nên các ngôi nhà khác nhau, nhưng khi thiết kế một ngôi nhà cần biết rõ bộ khung, sau đó mới đi vào thiết kế chi tiết.
"Trong thế giới toàn cầu hóa hiện nay, sự tương thích về giáo dục một mặt giúp nâng cao chất lượng giáo dục, mặt khác tạo các cơ hội liên thông giáo dục – đào tạo giữa nước ta và các nước khác, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh Việt Nam khi đi du học nước ngoài, vừa tăng cơ hội cung cấp dịch vụ giáo dục – đào tạo cho học sinh nước ngoài ở Việt Nam trong tương lai", ông Nam nói.
Vấn đề thứ ba tiến sĩ Nam nhận thấy là kết cấu, mô hình hệ thống giáo dục thiếu rõ ràng; yếu tố phân luồng, phương pháp phân luồng giáo dục còn mờ nhạt. Dẫn chứng dự thảo có nêu các môn học cho từng cấp, tuy nhiên lại không vẽ ra được sơ đồ tổ chức và phân luồng giáo dục theo Chương trình mới (dạng mà có thể dễ dàng tìm được với các nền giáo dục tiên tiến): Đồng thời, ông cũng không tìm thấy chủ trương, phương pháp phân luồng giáo dục ngay từ cấp Trung học cơ sở theo khuyến cáo của ISCED và được áp dụng tại rất nhiều nước.
Đề xuất cấp tiểu học 6 năm
Từ những phân tích trên, TS Nam đề xuất sơ đồ tổ chức và phân luồng giáo dục tương thích với ISCED 2011 như sau:
Screen-Shot-2015-08-13-at-11-13-38.png
Ông Nam đề nghị cấp Tiểu học có độ dài 6 năm (tăng một năm so với dự thảo Chương trình của Bộ Giáo dục) để học sinh trưởng thành hơn về trí tuệ và thể lực, bộc lộ được các tố chất, năng khiếu cá nhân, sẵn sàng hơn cho việc chọn luồng ở Trung học cơ sở. Rất nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới cũng có độ dài Tiểu học 6 năm như Anh, Mỹ, Australia, Đức, Phần Lan, Singapore...
Cấp Trung học cơ sở có độ dài 3 năm (giảm một năm so với dự thảo), chia ra hai luồng Lý thuyết/Hàn lâm và Kỹ thuật/Ứng dụng. Giữa hai luồng này có sự liên thông (có bước kiểm tra, đánh giá) để học sinh có thể chuyển từ luồng này sang luồng khác do nhu cầu, nguyện vọng cá nhân trong quá trình học.
Cấp Trung học phổ thông có độ dài 3 năm (như dự thảo), chia làm ba luồng Lý thuyết/Hàn lâm, Kỹ thuật/Ứng dụng và Học nghề (dành cho những học sinh không đạt điều kiện, hoặc không có nhu cầu học lên tiếp).
TS Nam đề nghị bổ sung cấp Dự bị Đại học (ở các nước khác gọi là A-Level School, Junior College…) tương thích với ISCED 5, với độ dài 2 năm; đổi mới chương trình giáo dục đại học (ISCED 6), trong đó giảm thời gian học các môn đại cương mà học sinh đã học ở Dự bị Đại học. Thời gian học Đại học còn 3-4 năm (tùy trường, ngành học).
Sau khi học sinh kết thúc Trung học phổ thông, học sinh sẽ thi tốt nghiệp phổ thông và căn cứ vào kết quả của kỳ thi này để phân luồng học sinh vào các trường Dự bị đại học, cao đẳng. Số học sinh không đủ điều kiện vào các trường này sẽ quay lại học Trung cấp, hoặc ra thẳng thị trường lao động.
Sau khi học sinh học 2 năm Dự bị Đại học thì tổ chức kỳ thi đại học để chọn học sinh đạt tiêu chuẩn vào các trường đại học. Các học sinh không đạt điều kiện sẽ chuyển sang các luồng khác (hoặc ra thẳng thị trường lao động với các cơ hội tuyển dụng hạn chế; phần lớn số học sinh này sẽ học thêm một chương trình đào tạo bổ sung).
Bên cạnh các trường áp dụng chương trình giáo dục phổ thông chính quy, ông Nam đề nghị bổ sung vào hệ thống giáo dục phổ thông tổng thể các trường thực nghiệm, các trường năng khiếu, các trường giáo dục đặc biệt. Các trường này là những bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục phổ thông tổng thể, mặc dù họ áp dụng chương trình giáo dục riêng. Đặc biệt, cần đề cao vai trò và tạo điều kiện cho hệ thống các trường thực nghiệm của các nhà/tổ chức giáo dục có uy tín phát triển mạnh mẽ và tạo sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường giáo dục phổ thông, qua đó nâng cao chất lượng của cả hệ thống chính quy và hệ thống thực nghiệm.
Đề xuất giảm số lượng môn học bắt buộc
Về chương trình giáo dục phổ thông (dự thảo), TS Nam đánh giá là còn nặng, cách tiếp cận đối với các môn học bắt buộc và tự chọn chưa hợp lý. Số lượng các môn học bắt buộc quá nhiều so với các hệ thống giáo dục tiên tiến. Ở các cấp Trung học của Anh, Mỹ, Đức…, tổng số môn học của học sinh chỉ 6-8 môn, trong đó khoảng một nửa là các môn bắt buộc, một nửa là tự chọn. Ví dụ, tại Singapore, ở cấp Trung học cơ sở theo luồng Lý thuyết/Hàn lâm, học sinh học 6-8 môn, với 3 môn bắt buộc là Toán, Tiếng Anh, Tiếng mẹ đẻ; theo luồng Kỹ thuật/Ứng dụng, học sinh học 5-7 môn, với 4 môn bắt buộc là Toán, Tiếng Anh, Tiếng mẹ đẻ, Tin học.
Theo ông, cơ quan quản lý cần xác định các môn học tối thiểu học sinh cần phải học khi chọn đi theo một luồng giáo dục cụ thể (để hình thành con người toàn diện, cho dù học sinh có năng khiếu, thế mạnh về các môn học đó hay không), còn học sinh tự chọn thêm cho mình các môn học có năng khiếu, thế mạnh, có nhu cầu theo đuổi mang tính hướng nghiệp. Nhà trường chỉ nên tập trung dạy cho mỗi học sinh biết thật tốt một số thứ, đồng thời dạy cho học sinh phương pháp tự học để có thể học những thứ khác không nằm trong chương trình học.
"Theo tôi, các môn học bắt buộc ở hai cấp Trung học không nên quá 5 môn, tổng số môn học Trung học không quá 8 môn, để dạy và học thật sâu", ông góp ý.
Thông qua việc chọn Tiếng Anh là môn học bắt buộc ở cả ba cấp học, đồng thời thực hiện việc dạy và học một số môn học ở cấp Trung học bằng tiếng Anh, ông Nam đề nghị đặt mục tiêu biến Việt Nam thành một nước có mặt bằng trình độ tiếng Anh cao thứ hai trong khu vực ASEAN (chỉ thua Singapore).
TS Nam cũng đề nghị tách lĩnh vực giáo dục “Công nghệ - Tin học” thành hai lĩnh vực giáo dục độc lập là “Sáng tạo Công nghệ” (hoặc “Thiết kế và chế tạo”) và “Tin học”; bổ sung lĩnh vực giáo dục “Các hoạt động giáo dục ngoại khóa/ngoài lớp học”.

Thí sinh rút hồ sơ ở Đại học Đà Nẵng chỉ trong 15 phút

Ban đào tạo Đại học Đà Nẵng khẳng định, khi làm theo phần mềm do Bộ Giáo dục và Đào tạo cung cấp, việc rút hồ sơ của thí sinh chỉ mất khoảng 15 phút, không có cảnh thí sinh và phụ huynh vạ vật chờ đợi.

Sáng 13/8, tại Đại học Đà Nẵng hàng trăm thí sinh đến nộp, rút hồ sơ. Ghi nhận của VnExpress, việc rút diễn ra rất nhanh chóng. Thí sinh chỉ cần nộp đơn đăng ký rút hồ sơ theo mẫu, xuất trình biên lai ghi nhận đã nộp hồ sơ, chứng minh thư cho nơi tiếp nhận, chờ khoảng 15 phút là được trả.
Thống kê của Ban đào tạo Đại học Đà Nẵng, đến hết ngày 12/8 có 14.795 hồ sơ nộp vào 8 trường đại học, cao đẳng, phân hiệu và có 1.368 thí sinh rút hồ sơ.
2G3A6496-2054-1439455124.jpg
Thí sinh đăng ký nộp hồ sơ tại Đại học Đà Nẵng. Ảnh: Nguyễn Đông.
TS Trần Đình Khôi Quốc, Trưởng ban đào tạo Đại học Đà Nẵng, cho biết năm nay toàn bộ thí sinh trên cả nước phải đăng ký nguyện vọng, trong đó mỗi em được ghi tối đa 4 nguyện vọng, nên gây ra sự xáo trộn. Nếu như năm trước thí sinh đăng ký rồi đi thi, thì năm nay thi xong lại di chuyển đi đăng ký. Thực ra thí sinh hoàn toàn có thể đăng ký qua đường bưu điện, nhưng chính tâm lý lo lắng không an toàn nên đã trực tiếp đi nộp.
"Tôi theo dõi qua các phương tiện thông tin đại chúng, thấy cảnh phụ huynh và học sinh ở TP HCM phải vạ vật nộp, rút hồ sơ. Ở Đà Nẵng học sinh chỉ mất 15 phút làm thủ tục, không ai phải đợi lâu", ông Quốc khẳng định.
Theo lý giải của ông Quốc, việc thí sinh không phải chờ đợi khi nộp, rút hồ sơ là do Đại học Đà Nẵng sử dụng phần mềm do Bộ Giáo dục cung cấp. Thí sinh khi đã nộp hồ sơ thì hồ sơ đó sẽ được gán cho một con số, trên hệ thống đã cập nhật theo con số này nên tìm lại rất dễ dàng.
"Phần mềm của Bộ Giáo dục lọc rất tốt. Tôi không hiểu tại sao một số nơi lại không dùng phần mềm này", ông Quốc nói và cho biết cùng với phần mềm của Bộ, khi thí sinh trúng tuyển một nguyện vọng thì lập tức hồ sơ đăng ký các nguyện vọng khác sẽ được lọc ngay, không còn tồn tại trên hệ thống.
Đại học Đà Nẵng đã công bố điểm chuẩn tạm thời của các ngành tuyển sinh. Theo đó, thí sinh từ 15 điểm có thể nộp hồ sơ xét tuyển. Nhiều ngành được đánh giá là điểm chuẩn cao, như ngành Sư phạm toán (Đại học Sư phạm Đà Nẵng) cao nhất 23,75 điểm cho 50 chỉ tiêu; ngành Công nghệ thông tin của ĐH Bách khoa Đà Nẵng với 23,5 điểm cho 190 chỉ tiêu... Trong khi đó, nhiều ngành theo hồ sơ đăng ký đang thiếu thí sinh.